3.2. Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty sản xuất thương mại bình tân
3.2.2. Phân tích hiệu quả sử dụng các nguồn lực phục vụ cho sản xuất kinh doanh
3.2.2.1.Tình hình sử dụng chi phí:Chi phí là chỉ tiêu đo lường hao phí các nguồn lực đầu vào cho sản suất kinh doanh của công ty tính bằng tiền .Việc quản lý các khoản chi phí phát sinh của công ty hợp lý ,giúp công ty giảm chi phí sản xuất kinh doanh ,tăng lợi nhuận .Trong giai đoạn 2000-2003 tình hình sử dụng chi phí của công ty được phản ánh qua bảng phân tích sau.
SVTH: Lê Ngọc Cảnh Trang 22 BẢNG 7: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHI PHÍ CỦA CÔNG TY 2000-2003.
Đơn vị :triệu đồng Năm
Chỉ tiêu
Năm 2000 (1)
Năm 2001 (2)
Năm 2002 (3)
Năm 2003 (4)
Chênh lệch
(2/1) (3/2) (4/3) Doanh thu
thuần
14.401 16.990 20.284 30.624 17,98 19,39 50,98
Chi phí HĐSXKD
14.070 16.320 19.494 28.254 16 19 45
Giá vốn hàng bán 12.992 15.023 17.987 26.263 16 20 46 Chi phí QLDN 1.078 1.297 1.507 1.991 20 16 32 Tỷ suất chi phí
Theo doanh thu Tỷ suất chi phí HĐSXKD
97,71
%
96,05% 96,11
%
92,26
% Tỷ suất giá vốn
hàng bán
90,22
%
88,42% 88,68
%
85,76
% Tỷ suất chi phí
QLDN
7,49% 7,63% 7,43% 6,50%
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh ,Phòng kế toán.
Nhận xét:Bảng phân tích tình hình sử dụng chi phí của công ty cho thấy : - Giá vốn hàng bán là khoản mục chi phí chủ yếu của công ty ,có tỷ suất tính theo
doanh thu là 90,22% năn 2000,giảm xuống 88,42% vào năm 2001 và 88,68%
vào năm 2002 .Năm 2003 tỷ suất chi phí giá vốn hàng bán tiếp tục giảm xuống còn 85,76% đây là một biểu hiện tốt , thể hiện công ty đã có biện pháp để giảm các khoản mục chi phí trong giá vốn hàng bán như:tiết kiệm chi phí nguyên liệu
…Đây là một kết quả tốt công ty cần có biện pháp duy trì để giảm hoạt động chi phí cho công ty.
- Khoản mục chi phí lớn thứ hai của công ty là chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty khá ổn định Tỷ suất chi phí quản lý doanh nghiệp tính theo doanh thu dao động giảm từ 7,63 xuống 6,50% qua các năm từ 2000-2003 .Tuy nhiên , công ty cần có biện pháp hạ thấp chi phí quản lý doanh nghiệp và giữ mức chi phí quản lý doanh nghiệp ở mức ổn định , khi doanh thu của công ty tăng lên - Đối với khoản mục chi phí bán hàng ,trong những năm qua công ty hoạch toán
các chi phí bán hàng vào chi phí quản lý doanh nghiệp nên khó kiểm tra để đánh giá sử dụng chi phí bán hàng .Vì vậy công ty cần tách khoản mục chi phí
SVTH: Lê Ngọc Cảnh Trang 23 bán hàng để theo dõi riêng ,nhằm đánh giá hiệu quả bán hàng giảm và theo dõi bán hàng trong thời gian tới .
- Qua bốn năm từ 2000-2003 mặc dù chi phí hoạt động kinh doanh của công ty tăng với tỷ lệ cao năm 2001 tăng 16% so với năm 2001 ,năm 2002 tăng 19% so với năm 2001 và năm 2003 tăng 45% so với năm 2002 .Nhưng tỷ lệ tăng chi phí đều thấp hơn tỷ lệ tăng doanh thu qua các năm trong giai đoạn 2000-2003 .Đây là một tín hiệu tốt công ty cần duy trì kết quả này ,mặt khác phải có biện pháp giảm tỷ suất các khoản chi phí xuống thấp hơn để đạt lợi nhuận cao hơn . 3.2.2.2.Tình hình sử dụng lao động :
Nhân lực là lực lượng trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty .Kết quả lao động của nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất lao động sản xuất kinh doanh của công ty .Hiệu quả sử dụng lao động được đo lường qua chỉ tiêu năng suất lao động được tính theo công thức sau :
Tình hình sử dụng của công ty trong giai đoạn 2000-2003 được phản ánh qua bảng phân tích sau.
Doanh thu Hiệu quả sử dụng lao động =
Số lượng lao động
SVTH: Lê Ngọc Cảnh Trang 24 BẢNG 8:PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 2000-2003.
Đơn vị : triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
Năm 2000 (1)
Năm 2001 (2)
Năm 2002 (3)
Năm 2003 (4)
Chênh lệch (%)
(2/1) (3/2) (4/3)
Doanh thu thuần 14.401 16.990 20.28 4
30.624 17,98 19,39 50,98 Lợi nhuận 330 672 793 2.378 103,64 18 199,87 Lao động bình
Quân
60 80 88 163 33,30 10,00 85,22 Doanh thu /Lao
Động bình quân
240 212 231 188 -11,67 8,96 -18,64 Lợi nhuận/Lao
động bình quân
5,5 8,4 9 52,72 52,72 7,14 66,66
Nguồn : Báo cáo kết quả kinh doanh ,Phòng kế toán.
Nhận xét : Bảng phân tích hiệu quả sử dụng lao động cho thấy
-Năm 2000, bình quân 1 lao động tạo ta được 240 triệu đồng doanh thu.
-Năm 2001, bình quân 1 lao động tạo ra được 212 triệu đồng doanh thu -Năm 2002, bình quân 1 lao động tạo ra được 231 triệu đồng doanh thu - Năm 2003, bình quân 1 lao động tạo ra được 188 triệu đồng doanh thu
Qua phân tích ta thấy số lượng lao động của công ty có tăng lên qua 4 năm nhưng năng suất lao động lại giảm vào năm 2001 và 2003 , biểu hiện ở chỉ tiêu doanh thu bình quân tạo ra bởi một lao động giảm .Nguyên nhân là do công ty tăng lao động nhưng chưa sắp xếp bố trí công việc phù hợp với khả năng của nhân viên , làm cho họ chưa phát huy hết năng lực làm việc của mình .Đây là vấn đề cần quan tâm để có biện pháp tăng năng suất lao động , nhằm tăng chỉ tiêu doanh thu trên đầu người .Qua phân tích cũng thấy hiệu quả sử dụng lao động xét theo chỉ tiêu lợi nhuận của công ty tăng lên qua các năm , đây là kết quả tốt nên công ty cần có biện pháp tiết kiệm chi phí để tăng mức lợi nhuận tính theo đầu người .
3.2.2.3. Tình hình sử dụng tài sản cố định .
Máy móc thiết bị được sử dụng vào sản xuất kinh doanh đem lại lợi nhuận cho công ty .Mức độ khai thác công suất máy móc ,hiệu suất sử dụng máy móc thiết bị càng cao , thể hiện công ty sử dụng máy móc thiết bị hiệu quả trong sản xuất kinh
SVTH: Lê Ngọc Cảnh Trang 25 doanh .Trong 4 năm từ 2000-2003 , tình hình sử dụng máy móc thiết bị của công ty được phản ánh qua bảng phân tích sau:
BẢNG 9:PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH Đơn vị :triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
Năm 2000 (1)
Năm 2001 (2)
Năm 2002 (3)
Năm 2003 (4)
Chênh lệch (%)
(2/1) (3/2) (4/3) Doanh thu thuần 14.401 16.990 20.284 30.624 17,98 19,39 50,98 Nguyên giá TSCĐ 3.717 4.569 7.097 12.216 22,92 55,33 72,13 Giá trị còn lại 3.403 3.886 6.032 10.631 14,19 55,22 76,24 Khấu hao TSCĐ 324 414 350 690 27,78 -15,46 97,14 Doanh thu /Giá trị
còn lại
4,23 4,37 3,36 2,88 Khấu hao/ Doanh
thu
2,25% 2,44% 1,73% 2,25%
Bảng phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty giai đoạn 2000-2003 cho thấy :
-Năm 2000, cứ một đồng giá trị còn lại TSCĐ, thì tạo ra 4,23 đồng doanh thu.
-Năm 2001, cứ một đồng giá trị còn lại TSCĐ, thì tạo ra 4,37 đồng doanh thu.
-Năm 2002, cứ một đồng giá trị còn lại TSCĐ, thì tạo ra 3,36 đồng doanh thu . -Năm 2003, cứ một đồng giá trị còn lại còn lại ,thì tạo ra 2,88 đồng doanh thu . Hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty năm 2002 và 2003 giảm là do công ty đầu tư thêm nhiều máy móc thiết bị mới để phục vụ cho sản xuất kinh doanh của công ty ,thể hiện ở tốc độ tăng của nguyên giá tài sản cố định năm 2002 là 55,33%
và năm 2003 là 72,13% . Vì vậy , công ty cần có biện pháp tăng doanh thu và sản lượng sản xuất để khai thác tối đa công suất của tài sản cố định ,nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho công ty .Qua phân tích sản lượng tài sản cố định cũng cho thấy công ty cần tăng doanh thu hơn nữa nhằm giảm chi phí khấu hao so với doanh thu để tăng lợi nhuận của công ty .
3.2.2.4 Tình hình mua nguyên vật liệu :
Đặc điểm sản xuất của công ty là loại hình sản xuất trung gian để tạo ra sản phẩm cuối cùng .Do vậy khối lượng nguyên vật liệu đầu vào phải phù hợp với nhu cầu sản xuất của công ty nhằm giảm chi phí lưu kho chi phí hư hỏng vì giấy là loại hàng hoá dể hư do thời tiết .Đồng thời ngành sản xuất bao bì có tính thời vụ cho nên việc dự trữ khối lượng nguyên vật liệu để dự phòng cho sản xuất kinh doanh là tất yếu .
BẢNG 10: TÌNH HÌNH NHẬP XUẤT TỒN NGUYÊN VẬT LIỆU Đơn vị : kg
SVTH: Lê Ngọc Cảnh Trang 26
NVL Năm
2000 2001 2002 2003
Nhập 2.996.700 3.545.258 4.177.379 6.613.842
Xuất
2.804.106 3.011.213 3.842.500 5.837.263
Tồn
192.594 534.045 334.879 776.579 Nguồn: Phòng vật tư
Qua bảng nhập xuất tồn nguyên vật liệu trên ta thấy khối lượng nguyên vật liệu tăng lên qua các năm .Điều này ch thấy lượng vốn lưu động bị ứ đọng làm cho tốc độ luân chuyển vốn chậm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của công ty .Do đó ,để tránh trình trạngv dự trữ cao gây ứ trọng về vốn làm mất phẩm chất nguyên vật liệu hư hỏng như :giấy ,keo ,mục in …thì trước mỗi kỳ sản xuất kinh doanh ,công ty phải dùng phương pháp dự báo ,căn cứ trên số hợp đồng ký kết ,số lượng sản phẩm cần sản xuất ,nguyên vật liệu tồn kho , từ đó sẽ biết được khối lượng sản phẩm sản xuất ra để lập kế hoạch dự trữ nguyên vật liệu cho hợp lý hơn .