Trong các giai đoạn của dự án, sự tham gia của cộng đồng đóng một vai trò quyết định trong việc đảm bảo các hoạt động của dự án được khả thi. Các lĩnh vực tham gia của người dân trong quá trình dự án thực hiện bao gồm cung cấp thông tin kinh tế-xã hội trong khu vực, giám sát chất lượng công trình, vận động những người khác tiến hành di dời đúng thời hạn. Cách tiếp cận “từ dưới lên” của dự án tạo điều kiện cho người dân trở thành đầu mối cung cấp thông tin về cộng đồng rất quan trọng trong công tác đền bù, giải tỏa và tái định cư.
3.5.1 Trong quá trình dự án thực hiện
Với vai trò là người thụ hưởng và là đối tượng bị tác động trực tiếp, các gia đình trong khu vực F11, Q6 được ban quản lý dự án tiếp cận nhằm thu thập thông tin về điều kiện kinh tế-xã hội và nhu cầu, nguyện vọng của họ một cách chính xác và thiết thực nhất. Các hình thức tham gia bao gồm
Bảng 36: Các hình thức tham gia trong dự án của cộng đồng Các hình thức tham gia Tần số Họp cộng đồng, hội thảo với các cơ quan ban
ngành về chính sách đền bù, giải toả 67 Thảo luận với các cơ quan về nhu cầu cải thiện
cuộc sống 55
Kiểm tra, giám sát tiến độ của dự án, chất
lượng công trình 25
Không tham gia 4
Cung cấp thông tin về KT-XH 2
(Nguồn: số liệu khảo sát đề tài-tháng 5/2010)
- Cung cấp thông tin về kinh tế-xã hội và về nguyện vọng tái định cư: Theo kết quả khảo sát, người dân cho rằng mình không tham gia nhiều vào hoạt động này nhưng trên thực tế, công tác này được diễn trong suốt những năm đầu dự án tiến hành thông qua việc tiếp xúc, trao đổi không chính thức của các nhân viên xã hội. Có thể người dân không nhận thấy vai trò tham gia của mình trong khía cạnh này và do người điều tra không giải thích cặn kẽ vấn đề nên số liệu có nhiều sai lệch so với thực tế mà tác giả ghi nhận được.
- Họp cộng đồng hoặc nhóm nhỏ, hội thảo với các cơ quan ban ngành về chính sách, quyền lợi đền bù: Đây là hoạt động quan trọng, có sự tham gia của hầu hết đại diện những gia đình trong khu vực. Thông qua các buổi hội họp người dân sẽ hiểu hơn về cách thức tiến hành dự án, phương thức tái định cư và cơ chế đền bù mà mình sẽ được hưởng.
- Thảo luận với các cơ quan ban ngành để tìm ra biện pháp giải quyết những bất cập và đáp ứng nhu cầu cải thiện cuộc sống: Thông qua những buổi hội họp khiếu
nạn, nhiều vấn đề và giải pháp phù hợp hơn với điều kiện và hoàn cảnh của người dân được nêu ra
- Kiểm tra, giám sát tiến độ dự án, chất lượng công trình: Hoạt động kiểm tra, đánh giá sẽ khách quan hơn khi có sự tham gia của cộng đồng. Qua đó, chất lượng công trình cũng phần nào được đảm bảo, không tạo ra mối nghi ngại trong cộng đồng
Thông qua những hoạt động đó, ban xã hội dần dần xây dựng được tính chủ động, phát huy khả năng làm chủ và quản lý của cộng đồng nói chung và một số cá nhân nói riêng. Ngoài ra, các nhân viên xã hội còn tiến hành xây dựng quỹ tín dụng tiết kiệm, một chương trình tài chính mới mẻ nhằm mục đích nâng cao tính tiết kiệm và khả năng quản lý tài chính của người dân. Hoạt động của quỹ tín dụng cơ bản được quản lý bởi trưởng nhóm và sự phối hợp của các thành viên. Càng nhiều gia đình tham gia thì quỹ tín dụng càng mở rộng hiệu quả với số lượng vốn vay ngày càng tăng lên thông qua giới thiệu của bà con bạn bè.
Bên cạnh đó, dự án còn tiến hành tuyên truyền, xây dựng nhiều lớp học nâng cao nhận thức về môi trường với sự tham gia của đông đảo thanh thiếu niên trong khu vực. Đây là thế hệ trẻ và là những công dân tiếp quản khu vực này trong tương lai, vì thế thay đổi nhận thức của các em là một việc làm quan trọng có tính lâu dài. Thông qua các chương trình kế hoạch nhỏ, bài học về phân loại rác thải và thực hành những thói quen vệ sinh khác, các em có thể vận dụng trong gia đình và lôi kéo những thành viên trong gia đình và cả cộng đồng tham gia, từ đó trang bị nền tảng nhận thức về giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường.
Trong quá trình hoạt động của mình, ban xã hội đã đạt được nhiều kết quả. Về các hoạt động tái định cư, nhờ tham gia và đóng góp ý kiến mà người dân tiếp nhận được nhiều thông tin về những chương trình, chính sách hỗ trợ cho cuộc sống sau này cũng như có cơ sở vững chắc trong việc bảo vệ quyền lợi của gia đình. Nhờ tham gia vào nhóm tiết kiệm tín dụng, xây dựng cuộc sống mà nhiều cá nhận đã nhận được sự tín nhiệm và tham gia vào nhiều tổ chức xã hội trong địa phương sau khi dự án kết thúc. Ngoài mục đích tham gia để được nhận hỗ trợ tài chính, nhiều cá nhân cũng nhận thấy lợi ích khác như sự giúp đỡ, hỗ trợ giữa các thành viên trong nhóm.
Nhờ sự nhiệt tình không ngại khó của các cán bộ mà nhiều vấn đề được giải quyết, thông qua, tạo ra sự đồng thuận giữa cộng đồng và ban quản lý dự án, tuy nhiên, điều này cũng sẽ gây ra những hạn chế. Với quan niệm “không quan tâm” tồn tại thì sự giúp đỡ của các nhân viên xã hội sẽ trở thành “phao cứu sinh”, hình thành tính ỷ lại trong cộng đồng dân cư. Tuy cũng có một số gia đình chủ động giải quyết thủ tục giấy tờ nhất là hộ khẩu nhưng phần đông đều không muốn tự mình giải quyết để làm quen với các thủ tục hành chính và chỉ muốn mọi việc được dự án giải quyết. Cô Mai, nhân viên xã hội của dự án cho biết: “Về tín dụng, môi trường, hỗ trợ kinh tế xã hội rồi vấn đề tái định cư, rồi cả vấn đề giấy tờ, thật ra có nhiều người họ không quan tâm đến giấy tờ đâu. Con tin có người sáu mấy tuổi mới đi làm giấy khai sanh không. Họ không quan tâm, họ cũng không cần. Ngay cả chuyện học hành của con cái mà họ cũng
không quan tâm nữa. Phải nói nhận thức của người dân là rất quan trọng nhưng trước đây hầu như họ chẳng biết gì” (Phỏng vấn sâu số 11).
Nhìn chung, khi dự án tiến hành khảo sát và thực hiện thì sự tham gia của người dân là rất quan trọng và vô cùng sôi nổi. Mọi người ý thức được vai trò, quyền lợi của mình khi đóng góp giúp dự án hoàn thành. Nhờ tham gia vào các hội nhóm mà người dân nâng cao năng lực nhận thức vấn đề và tìm ra giải pháp, giúp người dân từ chỗ không có tiếng nói đã có khả năng tranh luận và đưa ra ý kiến. Tuy nhiên, sự tham gia quá lâu và rất hiệu quả của cán bộ dự án sẽ trở thành một tác nhân không thể thiếu và gây ra sự hạn chế trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng của người dân
3.5.2 Sau khi dự án kết thúc
Sau khi dự án kết thúc, người dân mới thật sự vật lộn với cuộc sống của mình. Do quá lệ thuộc vào nhân viên xã hội và vì trình độ văn hóa thấp nên nhiều gia đình đã gặp phải khó khăn trong việc hoàn tất các thủ tục hành chính liên quan tới cuộc sống mới.
Và cuối cùng các nhân viên xã hội lại phải vào cuộc, cô Mai nhân viên của dự án đã tâm sự: “Bây giờ nhiều khi mình mua đất ở cái khu đó mình phải tự lo hết chứ ai lo cho mình còn ở đây cái gì họ cũng kêu dự án hết con biết tới nỗi chuyển hộ khẩu tụi cô cũng phải lo đi đánh máy ra một cái bảng là thủ tục cần có những gì rồi đưa về cho họ. Cũng giúp cho họ đàng hoàng rồi liên hệ giúp họ ở phường, khu phố họp lại rồi thông báo, thông tin đầy đủ hết” (Phỏng vấn sâu số 11)
Tuy nhiên, sự giúp đỡ này không thể tiếp tục một khi dự án kết thúc và sự rút đi của các nhân viên xã hội, người dân cần bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới và tham gia vào các hoạt động trong cuộc sống tại địa phương để có thể trang bị cho mình kiến thức và kỹ năng quản lý và làm chủ gia đình cũng như những thông tin về cộng đồng để có thể thích ứng tốt hơn.
Trong hoạt động duy tu, giữ gìn cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trường
Trong gần 10 năm tiến hành, những thành quả mà dự án đạt được là vô cùng quý giá do đó cần được duy tu và bảo vệ để sử dụng lâu dài. Quan sát chung cả hai khu tái định cư cho thấy các hộ không quan tâm đến tài sản công ở trong khuông viên, người dân chỉ bảo vệ những công trình công cộng ngay trước nhà họ và có xu hướng sở hữu và sử dụng chúng để phục vụ cho nhu cầu gia đình như đậu xe, buôn bán, quán café, quán ăn…
Ở khu nâng cấp F11, Q6, người dân gần như không còn đối mặt với tệ nạn xã hội nhờ hệ thống chiếu sáng công cộng do dự án nâng cấp đô thị lắp đặt. Nhưng hiện nay, hệ thống một số không hoạt động và một số bị xuống cấp. Tuy nhiên, qua một số cuộc khảo sát không chính thức thì người dân ít quan tâm đến việc gây quỹ bão dưỡng để duy trì hệ thống chiếu sáng này. Cách nghĩ của một hộ nói chung và của cộng đồng nói riêng là: “Cái này báo tổ trưởng rồi, đợi chính quyền cử thợ điện xuống kiểm tra”
(Phỏng vấn sâu số 09) Sau khi dự án tiến hành đã tạo ra rất nhiều thay đổi trong quang cảnh, môi trường. Nhờ những kiến thức được phổ biến mà thói quen vứt rác bừa bãi đã giảm bớt.
Bảng 37: Đánh giá tình trạng rác thải trong khu vực hiện nay Đánh giá Tần số % % cộng dồn
Tốt hơn 111 77,6 77,6
Không thay đổi 28 19,6 97,2
Xấu đi 4 2,8 100,0
Tổng 143 100,0
(Nguồn: số liệu khảo sát đề tài-tháng 5/2010)
Theo kết quả ngiên cứu, tình trạng rác thải trong khu vực đã được cải thiện rất nhiều (77,5%). Tuy nhiên dọc theo bờ kênh Tân Hóa, rác thải và phân động vật vẫn còn. Khu vực xung quanh có nhiều hộ làm da bì vẫn tiếp tục xả nước thải sản xuất ra hệ thống cống công cộng. Những chất thải này thường làm nghẹt cống, tạo mùi hôi và gây ô nhiễm trầm trọng đồng thời sẽ ảnh hưởng đến hệ thống thoát nước về lâu dài, dẫn tới tốn kém chi phí nạo vét. Tuy xu hướng là mọi người giữ gìn vệ sinh chung cho khu vực nhưng cũng có nhiều cá nhân chưa thật sự có ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh cho cộng đồng cũng như bảo vệ môi trường. Một người dân sống tại chung cư cho biết:
“Mình không vứt thì có người khác vứt. Một mình mình thì làm được gì. Không phải vứt rác là tăng thêm ruồi muỗi hay chuột bọ gì đâu, do con kênh này nó dơ quá nên mấy con đó nó mới nhiều. Giờ thử không vứt rác coi, nó cũng còn chứ có bớt đâu”
(Phỏng vấn sâu số 08) Cần phải khẳng định việc giữ gìn vệ sinh, bảo vệ cơ sở hạ tầng trong khu vực cần sự đóng góp, tham gia của cộng đồng dân tái định cư và những khu vực dân cư lân cận. Trong tình hình công tác quản lý của các cơ quan chức năng chưa thật sự hiệu quả thì để có thể hưởng thụ những thành quả dự án mang lại một cách lâu dài thì trách nhiệm của mỗi cá nhân trong cộng đồng cần được nâng cao. Tuy nhiên, cho tới nay, tâm lý phụ thuộc vào dự án, chờ dự án giải quyết, chờ chính quyền can thiệp của người dân vẫn còn do thỉnh thoảng có nhiều tổ chức xã hội tiếp xúc để lượng giá dự án và học hỏi kinh nghiệm. Vì thế, chính quyền và Ban quản lý khu phố cần tuyên truyền, làm rõ quan điểm để người dân nâng cao nhận thức và trách nhiệm.
Trong việc tiếp nhận các chương trình vay vốn, hỗ trợ việc làm
Những khó khăn người dân gặp phải trong cuộc sống sau khi tái định cư không chỉ là các yếu tố vật chất nhìn thấy hay định lượng được như thu nhập thấp, không ổn định mà còn hạn chế ở các yếu tố không nhìn thấy được như thiếu thông tin, thiếu lòng tin, nhận thức còn hạn chế, khó tiếp cận với các dịch vụ công và dịch vụ xã hội, thiếu kỹ năng làm chủ và quản lý cuộc sống và quản lý kinh tế gia đình. Bắt nguồn từ việc khó khăn trong trang trải cuộc sống, nhiều người đã từ chối việc nâng cao tay nghề để có thể giành thời gian kiếm thu nhập phụ giúp gia đình
Dân tái định cư được mời gọi tham gia các khóa học nghề ngắn hạn miễn phí như phục vụ nhà hàng, làm tóc, may gia công… nhưng họ không tham gia được vì một số lý do:
- Muốn nhận tiền công ngay lập tức. Với những nghề lao động tự do như bốc xếp, thợ hồ… họ có thể nhận tiền ngay trong ngày để trả góp tiền nhà và giải quyết những nhu cầu sinh hoạt khác. Họ không có kiên nhẫn bỏ từ 1-3 tháng để học một nghề mới.
- Do không có trình độ nên người dân không nhanh nhạy trong việc thích ứng với nghề nghiệp mới và có xu hướng giữ lại nghề nghiệp cũ. Một người dân cho biết:
“Trước kia ở đây cũng nhiều người xin đi làm ở các công ty hay nhà máy gần đây nhưng một thời gian sau họ nghỉ hết một phần vì lương trả thấp, số giờ làm nhiều còn phần khác thì không chịu được những quy định và sự gò bó trong nhà máy, xí nghiệp nên họ nghỉ, như cô biết đấy xin vào công ty làm việc đòi hỏi trình độ và học vấn ít nhất cũng phải hết cấp 2 hoặc cấp 3 nhưng người dân ở đây trình độ chủ yếu hết lớp 5 hay lớp 7 hoặc 8 nên họ đâu có xin đi làm công nhân được”
(Biên bản phỏng vấn sâu 09) Dù có được dự án tạo điều kiện hay được chính quyền địa phương quan tâm, chương trình hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề vẫn gặp nhiều trở ngại. Bác Tỵ, tổ trưởng A2 khu tái định cư Bình Hưng Hòa A đã giải thích: “Cách đây hơn một năm bác có xin được 5 xuất đào tạo nghề miễn phí dành cho con em gia đình gặp khó khăn trong khu phố, tất cả đều không phải mất tiền thậm chí họ còn cho mình tiền ăn trưa và đi xe bus tới nơi học cơ, bác vui mừng mang về đưa cho 5 hộ trong khu của bác, giải thích lợi ích khi đi học nghề để sau này có công việc ổn định giúp đỡ gia đình, dặn đi dặn lại là phải đi học và mấy đứa hứa là sẽ đi, sau hôm khai giảng lớp bác tới thăm nhà và hỏi về tình hình học như thế nào chì chúng nói là không đi và không có lời giải thích nào cho bác là vì sao không đi, nó chỉ nói rằng con phải đi làm để kiếm tiền nếu đi học thì không kiếm được tiền, vậy đó. Điều bác muốn nói ở đây là đó là sự lựa chọn của người dân khi lựa chọn rồi sẽ không thể trách ai được vì đó là quyết định của mình, bác thấy tiếc khi trình độ hiểu biết của chúng còn hạn chế quá” (Phỏng vấn sâu số 02)
Người dân đã quen với suy nghĩ không cần trình độ cũng có thể có việc làm, họ thân thuộc với tình trạng đi làm ngày nào được tính công ngày đó trong khi thị trường lao động lại cần những người có trình độ hoặc tay nghề. Xét lại nguyên nhân thất bại của chương trình, dự án và chính quyền chưa thật sự tìm kiếm những công việc phù hợp với trình độ, nhận thức, quan trọng là phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của người dân. Tuy nhiên, không thể không phủ nhận năng lực và nhận thức của người dân quá thấp để có thể đáp ứng đủ yêu cầu. Để có thể học nghề hoặc nâng cao tay nghề thì vốn nhận thức từ trước của người dân là điều kiện cần thiết, kèm theo đó là sự kiên nhẫn và sự hỗ trợ từ phía gia đình.
Nhìn chung, trong vấn đề việc làm tạo thu nhập, người dân vẫn chưa có khả năng chủ động trong việc tìm kiếm công việc mới do xu hướng thích nghề tự do tại nhà, vừa