Người tham gia giao kết, xác lập hợp đồng phải có năng lực

Một phần của tài liệu BÀI GIẢNG MÔN LUẬT KINH TẾ (Trang 62 - 70)

Chương III ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG TY

II. Các điều kiện để Hợp đồng có

1. Người tham gia giao kết, xác lập hợp đồng phải có năng lực

- Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng, bao gồm: Cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình.

+ Cá nhân:

- Đầy đủ năng lực hành vi dân sự:

từ đủ 18 tuổi

- Chưa đầy đủ: 6 – dưới 18 tuổi (từ 15 – 18 )

- Không có năng lực hành vi dân sự: dưới 6 tuổi (mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự)

Cá nhân tham gia giao kết, thực hiện hợp đồng phải có mức độ năng lực hành vi dân sự phù hợp:

 Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được quyền giao kết, thực hiện mọi HĐDS.

 Người có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ thì khi giao kết, thực hiện hợp đồng phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý; trừ những hợp đồng nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác. Tuy nhiên, cá nhân từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi có tài sản riêng đủ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì chủ thể tự mình giao kết, thực hiện hợp đồng mà không cần sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật; trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

 Những người không có hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì mọi hợp đồng liên quan đến quyền lợi của những người này đều phải do người đại diện theo pháp luật giao kết, thực hiện.

 Mọi hợp đồng liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực

hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật;

trừ những hợp đồng nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày.

+ Pháp nhân

- Pháp nhân là một tổ chức hội đủ các điều kiện sau:

+ Được thành lập một cách hợp pháp;

+ Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

+ Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;

+ Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Đối với pháp nhân: chỉ được tham gia xác lập, thực hiện những hợp đồng phù hợp mục đích, phạm vi, thẩm quyền của pháp nhân đó được quy định trong Quyết định thành lập, trong giấy phép hoặc trong điều lệ của pháp nhân.

Đối với Tổ hợp tác: chỉ được tham gia xác lập, thực hiện những hợp đồng nhằm thực hiện những công việc nhất định được ghi nhận trong hợp đồng hợp tác.

Đối với hộ gia đình: chỉ được tham gia xác lập những hợp đồng liên quan đến sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp; liên quan đến quyền sử dụng đất và một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định.

Hoạt động của các tổ chức được tiến hành thông qua hành vi của người đại diện, vì vậy việc xác lập, thực hiện hợp đồng của các chủ thể này được thực hiện thông qua hành vi của người đại diện.

Khi ký kết HĐDS, đối với pháp nhân thì người ký HĐ sẽ là đại diện hợp pháp của pháp nhân. Nếu họ không thể ký được thì có thể áp dụng chế ủũnh uỷy quyeàn.

2. Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội :

Mục đích của các bên trong hợp đồng là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập, thực hiện các hợp đồng đó.

Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các điều khoản quy định về

quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.

Tất cả các điều khoản trong nội dung của hợp đồng được chia thành 3 loại:

+ Điều khoản chủ yếu: đây là những điều khoản xác định nội dung chủ yếu của hợp đồng nên không thể thiếu đối với từng loại hợp đồng;

vì vậy, nếu các bên không thỏa thuận được hoặc không đạt được sự thỏa thuận về những điều khoản này thì hợp đồng không thể giao kết được.

Ngoài những điều khoản do pháp luật quy định, các bên có thể thỏa thuận các điều khoản cơ bản. Nếu 2 bên không có thỏa thuận thì áp dụng quy định của pháp luật.

+ Điều khoản thường lệ: là những điều khoản đã được pháp luật quy định trước, vì vậy các bên có thể đưa vào trong hợp đồng hoặc không thoả thuận về những điều khoản đó. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận về các điều khoản đó thì coi như hai bên đã mặc nhiên thống nhất, công nhận nên khi xảy ra tranh chấp vẫn

áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết

+ Điều khoản tùy nghi: (1) Luật định – (2) Các bên có thể thay đổi.

Là những điều khoản do các bên thỏa thuận dựa trên những quy định của pháp luật để lựa chọn hoặc những điều khoản hình thành do các bên tự thỏa thuận với nhau mà không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhaỏt ủũnh.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Nội dung của HĐDS gồm các điều khoản sau:

Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về các nội dung sau ủaõy:

1. Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm;

2. Số lượng, chất lượng;

3. Giá cả, phương thức thanh toán;

4. Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

5. Quyền, nghĩa vụ của các bên;

6. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;

7. Phạt vi phạm hợp đồng;

8. Các nội dung khác.

3. Người tham gia giao kết, thực hiện hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyeọn :

Bản chất của Hợp đồng là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các bên tham gia nên sự tự nguyện trong hợp đồng là sự kết hợp thống nhất giữa hai yếu tố : ý chí và bày tỏ ý chí.

Những trường hợp sau đây sẽ bị coi là thiếu sự tự nguyện trong việc giao kết, thực hiện hợp đồng.

- Hợp đồng giả tạo (Điều 129 BLDS) có 2 trường hợp:

# HĐ giả cách: là hợp đồng được xác lập nhằm che giấu một HĐ khác;

# HĐ tưởng tượng: là hợp đồng mà các bên xác lập nhằm tạo hình thức chứ không làm phát sinh hậu quả pháp lý.

- Hợp đồng do bị nhầm lẫn:

Nhầm lẫn trong hợp đồng là việc một trong các bên hình dung sai về nội dung của hợp đồng nên đã xác lập hợp đồng đó, gây thiệt hại cho mình hoặc cho phía bên kia.

- Hợp đồng do bị lừa dối:

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

- Hợp đồng bị đe dọa:

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín,

nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.

- Hợp đồng do người xác lập không nhận thức và không làm chủ được hành vi của mình. Ví dụ trong tình trạng say sỉn, choáng, sốc…

Lưu yù: Hình thức của HĐDS chỉ được coi là một trong bốn điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp có quy định hình thức bắt buộc. Vì vậy, nếu pháp luật không quy định hình thức bắt buộc đối với hợp đồng thì chổ caàn tuaõn thuỷ 3 ủieàu kieọn neõu treân.

Một phần của tài liệu BÀI GIẢNG MÔN LUẬT KINH TẾ (Trang 62 - 70)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(114 trang)
w