Tính đến 1/4/2011, dân số Việt Nam là 87.610.947 người, trong đó dân số thành thị chiếm 30,6%, dân số nông thôn chiếm 69,4%; nam có 43.347.731 người (chiếm 49,5%), nữ có 44.263.216 người (chiếm 50,5%). Vùng Đồng Bằng Sông Hồng có qui mô dân số lớn nhất, tiếp đến là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung; Tây Nguyên là vùng có qui mô dân số ít nhất.
Trung bình mỗi năm, dân số Việt Nam tăng gần một triệu người và cũng có khoảng một triệu người gia nhập lực lượng lao động, điều này tạo ra áp lực khá lớn cho vấn đề tạo công ăn việc làm cho người lao động. Cơ cấu dân số Việt Nam thuộc nhóm “cơ cấu dân số trẻ”, số người thuộc nhóm dưới tuổi lao động chiếm 31,8%, trong đó nhóm dưới 15 tuổi, chiếm 24,1 %.
Cơ cấu dân số chia theo giới tính và nhóm tuổi.
Nhóm tuổi Tổng số Nam Nữ
Tổng số 100,0 100,0 100,0
0-4 8,0 8,5 7,5
5-9 7,9 8,3 7,4
10-14 8,2 8,6 7,7
15-19 9,2 9,5 8,8
20-24 8,5 8,6 8,4
25-29 8,5 8,6 8,5
30-34 7,9 7,9 7,8
35-39 7,6 7,7 7,5
40-44 7,3 7,2 7,3
45-49 6,8 6,8 6,7
50-54 6,2 5,9 6,5
55-59 4,2 4,1 4,4
60-64 2,8 2,7 3,2
65 trở lên 6,9 5,6 8,3
Nguồn điều tra biến động dân số - KHHGD 01/04/2011, Tổng cục thống kê.
Tháp dân số Việt Nam theo nhóm tuổi, 2011.
Nguồn điều tra biến động dân số - KHHGD 01/04/2011, Tổng cục thống kê.
Trong số dân số từ 15 tuổi trở lên, số chưa tốt nghiệp tiểu học và mù chữ chiếm 17,27%. Trình độ học vấn của dân số từ 15 tuổi trở lên có sự chênh lệch đáng kể giữa nam và nữ, giữa thành thị và nông thôn trong các cấp độ học vấn, ở trình độ học vấn càng cao, sự chênh lệch càng nhiều.
LLLĐ trong độ tuổi lao động: Nam từ 15 - 60 tuổi, nữ từ 15 - 55 tuổi. LLLĐ bao gồm những người đang có việc làm và những người thất nghiệp. Tính đến thời điểm 1/7/2011, Việt Nam có 51.326 nghìn người từ 15 tuổi trở lên thuộc LLLĐ, chiếm 58,4% tổng dân số, trong đó nữ 48,3% và nam chiếm 51,7%. LLLĐ chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn (71,5%).
LLLĐ phân theo thành thị/nông thôn và vùng kinh tế - xã hội.
Nơi cư trú/ Vùng kinh tế - xã hội LLLĐ Tỉ lệ (%)
(1.000 người) Tổng số Nam Nữ
Cả nước 51.326 100,0 100,0 100,0
Thành thị 14.643 28,5 28,6 28,4
Nông thôn 36.683 71,5 71,4 71,6
Vùng kinh tế - xã hội
Trung Du và Miền núi phía Bắc 7.076 13,8 13,4 14,2
Đồng Bằng Sông Hồng 11.371 22,2 21,5 22,8
Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung 11.092 21,6 21,2 22,0
Tây Nguyên 3.068 6,0 6,0 6,0
Đông Nam Bộ 8.398 16,3 16,7 16,0
Đồng Bằng Sông Cửu Long 10.32 20,1 21,2 19,0
Nguồn báo cáo điều tra lao động - việc làm 6 tháng đầu năm 2011, Tổng cục thống kê.
LLLĐ tập trung chủ yếu ở 3 vùng là Đồng Bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ;
Duyên Hải Miền Trung; Đồng Bằng Sông Cửu Long. Như vậy, khu vực nông thôn và ba vùng kinh tế - xã hội này là những nơi cần có các chương trình khai thác nguồn lực lao động, đào tạo nghề và tạo việc làm trong những năm tới.
Tỉ lệ tham gia LLLĐ của dân số từ 15 tuổi trở lên là 76,5%. Tỉ lệ tham gia LLLĐ chênh lệch đáng kể giữa nam và nữ (81,3% của nam so với 72,0% của nữ), và không đồng đều giữa các vùng.
Trong khi tỉ lệ tham gia LLLĐ cao nhất ở hai vùng miền núi là Trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên (84,2% và 83,4%), thì tỉ lệ này lại khá thấp ở các vùng khác (khoảng 75 - 77%). Có khoảng 14% LLLĐ chưa tốt nghiệp tiểu học, trong đó có 4% chưa bao giờ đi học (mù chữ).
LLLĐ chia theo thành thị/nông thôn và trình độ học vấn năm 2010.
Chung Thành thị Nông thôn
□ KXĐ 0.22 0.18 0.23
□ Đại học trở lên 5.67 15.52 1.92
□ Cao đẳng 1.65 2.79 1.21
□ Cao đẳng nghề 0.3 0.56 0.2
□ Trung cấp chuyên nghiệp 3.42 5.63 2.57
□ Trung cấp nghề 1.69 3.17 1.13
□ Trung học phổ thông 12.78 18.84 10.46
□ Sơ cấp nghề 1.95 3.16 1.49
□ Trung học cơ sở 32.61 25.23 35.42
□ Tiểu học 24.39 17.27 27.11
□ Chưa tốt nghiệp Tiểu học 11.32 6.23 13.26
□ Chưa đi học 4.01 1.42 5
Nguồn điều tra lao động - việc làm năm 2010, Tổng cục thống kê.
Theo số liệu điều tra, từ năm 1999 - 2009, dân số Việt Nam tăng thêm 9,523 triệu người, bình quân mỗi năm tăng 952.000 người.
Có 3 tỉnh, thành phố có qui mô dân số lớn hơn 3 triệu người, đó là: TP.HCM với 7,163 triệu người, Hà Nội 6,452 triệu người và Thanh Hoá là 3,401 triệu người.
Năm tỉnh có dân số dưới 500.000 người là: Bắc Cạn, Điện Biên, Lai Châu, Kon Tum và Đắc Nông.
Tính đến ngày 01.04.2009, tổng số dân của Việt Nam là 85.846.997 người, bao gồm 42.413.143 nam (chiếm 49,4%) và 43.433.854 nữ (chiếm 50,6%). Kết quả điều tra cũng phản ánh một thực tế, dân số thành thị đang tăng nhanh. Cụ thể, dân cư ở khu vực thành thị là 25.436.896 người, chiếm 29,6% tổng dân số cả nước, trong khi dân số nông thôn là 60.410.101 người, chiếm 70,4%.
Theo số liệu thống kê, tốc độ tăng dân số trung bình ở thành thị là 3,4% mỗi năm, trong khi ở khu vực nông thôn chỉ là 0,4% mỗi năm. Cơ cấu dân số theo tuổi cũng có sự thay đổi theo hướng tích cực. Tỉ trọng dân số dưới 15 tuổi giảm từ 33,1% năm 1999 xuống còn 24,5% vào năm 2009. Ngược lại, tỉ trọng dân số trong nhóm tuổi 15 - 64 là nhóm tuổi chủ lực của lực lượng lao động tăng từ 61,1% lên 69,1%. Chính vì cơ cấu dân số thay đổi như vậy, nên cả nước đã có 43,9 triệu người trong độ tuổi lao động đang làm việc, chiếm 51,2% dân số; trong đó thành thị có 12,0 triệu lao động, nông thôn có 31,9 triệu lao động; lao động nữ chiếm 46,6%.
Nếu theo tỉ trọng như vậy thì Việt Nam đang ở trong giai đoạn “cơ cấu dân số vàng”, vì đang có ưu thế rất lớn về lực lượng lao động, là lợi thế rất lớn đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Theo dự tính của Tổng cục thống kê thì cơ cấu này sẽ còn kéo dài từ 30 đến 50 năm nữa. Tuy nhiên, theo ông Đỗ Thức - quyền Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê, dân cư thành thị tăng nhanh chóng đang gây áp lực đảm bảo các điều kiện sống cho người nhập cư như nhà ở, việc làm, giáo dục, y tế, qui hoạch đô thị và môi trường.
Kết quả điều tra về nhà ở đã cho thấy, số hộ gia đình có nhà ở, nhà kiên cố chiếm 46,3%, nhà bán kiên cố chiếm 37,9%, nhà thiếu kiên cố chiếm 8,0% và nhà đơn sơ chiếm 7,8%. Tỉ trọng hộ gia đình có nhà ở với diện tích sử dụng dưới 15 m2 sau 10 năm qua tăng không đáng kể. Năm 1999 có 2,2% số hộ gia đình đang sinh hoạt trong diện tích nhà ở chật hẹp dưới 15 m2 và đến năm 2009 tỉ lệ này là 2,4%.
Trong khi đó, số hộ gia đình sử dụng diện tích nhà ở rộng hơn 60 m2 đã tăng từ 24,2% trong năm 1999 lên 51,5% trong năm 2009. Hiện diện tích nhà ở bình quân đầu người trung bình của cả nước đang ở mức 16,7 m2/người. Trong đó, khu vực thành thị là 19,2 m2/người và ở nông thôn là 15,7 m2/người.
Trong lĩnh vực giáo dục, tỉ lệ biết chữ của dân số từ 15 tuổi trở lên đã tăng từ 90,3% của năm 1999 lên 94,0% năm 2009. Trong số 19,2 triệu người trở lên đang đi học có 87,6% đang theo học các bậc học phổ thông, 2,7% đang theo học nghề, 3,2% đang theo học cao đẳng và 6,6% đã theo học đại học trở lên.
Khi dự án triển khai vào thực tế sẽ cần một lực lượng lao động lớn (chủ yếu là lực lượng lao động trình độ thấp). Mà điều này Việt Nam có thể đáp ứng tốt.