BÀI 11 Lắp đặt thiết bị thu nước mưaLắp đặt thiết bị thu nước mưa
6. Nhưng sai phạm, nguyên nhân và biện pháp khắc phục
* Những sai phạm:
- Mối nối không kín
- Các đai giữ ống khoảng cách không đúng thiết kế - Đai giữ ống không đảm bảo độ chắc chắn để giữ ống
* Biện pháp khắc phục:
- Sửa lại theo thiết kế
- Sửa lại đai giữ ống đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật
BÀI 12
Lắp đặt bể xử lý nước thải sinh hoạt Mã bài: M 26-12
Mục tiêu
- Mô tả được cấu tạo của bể xử lý nước thải sinh hoạt.
- Trình bày được yêu cầu kỹ thuật đối với bể xử lý nước thải sinh hoạt.
- Trình bày được quy trình vận hành của bể.
- Trình bày được các bước lắp đặt.
- Trình bày được các phương án sửa chữa khi có sự cố.
- Vận dụng kiến thức đã học MĐ 14, MĐ16 để xây, trát bể chứa đạt các yêu cầu kỹ thuật.
- Vận dụng kiến thức đã học để lắp đặt đường ống thoát nước, thoát hơi đạt yêu cầu kỹ thuật.
- Đảm bảo được vệ sinh môi trường và độ bền trong quá trình sử dụng.
Nội dung chính
Nước bẩn trong nhà tháo ra cống chung của Thành phố hay ra ao hồ có mang nhiều chất bẩn . Nước bẩn sinh hoạt có mang theo nhiều cặn bã , bùn cát , rác , các chất hữu cơ , vô cơ và vi trùng . Nước bẩn sản xuất có chứa nhiều dầu mỡ , chất độc... nước mưa có nhiều rác, bùn, cát... các loại nước bẩn này nếu thải ra cống chung của thành phố , ra sông , hồ ... nói chung không có lợi về mặt vệ sinh môi trường , ảnh ưởng đến đời sống của nhân dân nói chung . Vì vậy trước khi thải vào môi trường ta phải có biện pháp làm sạch sơ bộ công trình làm sạch sơ bộ nước bẩn ấy gọi là các công trình xử lý cục bộ nước bẩn , bao gồm : bể lắng cặn (bùn cát ) bể hút xăng dầu , mỡ ; máy nghiền rác ; trạm bơm thoát và bể tự hoại (bể xử lý nước thải sinh hoạt).
1. Đọc hồ sơ thiết kế
Mục tiêu: Xác định được các yếu tố kỹ thuật khi lắp đặt 1.1. Khái niệm chung
Các loại nước bẩn sinh hoạt ( phân , nước tiểu , tắm , giặt , ăn uống , rửa...) tuy không có nhiều cặn bã lớn , nhưng lại có chứa rất nhiều các chất hữu cơ , vô cơ , khí độc và đặc biệt là vi trùng . Loại nước bẩn này không thể cho ngay vào bể lắng bùn , hút dầu mỡ mà phải làm sạch bằng các công trình giành riêng cho nước bẩn sinh hoạt , trước khi thải ra hệ thống thoát nước chung hay sông hồ . 1.2. Cấu tạo bể
Bể xử lý nước thải sinh hoạt thường có dạng một bể chứa dùng để lắng, lọc và để tiêu huỷ một phần cặn bã của nước thải sinh hoạt.
-Bể được đặt dưới sàn khu vệ sinh, hoặc đặt ngầm ở ngoài nhà.
Nó có dạng một bể chứa, hình tròn hoặc chữ nhật, có thể làm một, hai hoặc 3 ngăn trở lên. Khi làm nhiều ngăn, ngăn đầu có thể tích lớn hơn, cặn đọng lại ở
đấy nhiều hơn (nếu 2 ngăn, ngăn đầu lấy bằng 0,75 dung tích tính toán; nếu 3 ngăn thì ngăn đầu bằng 0,5 còn các ngăn 2 và 3 mỗi ngăn lấy bằng 0,25 dung tích tính toán). Dung tích nhỏ nhất của bể không được bé hơn 5m3. Thời gian nước đi qua bể từ 1 – 4 ngày.
- Nguyên tắc làm việc của bể : Toàn bộ nước bẩn sinh hoạt thoát từ trong nhà ra đều cho chảy vào bể tự hoại. Khi đó trong bể xảy ra 2 quá trình lắng đọng và lên men : Nước chảy từ từ qua bể, dưới tác dụng của trọng lượng bản thân các hạt cặn (phân, cát, bùn ...) rơi xuống chứa ở đáy bể.
1. Ống dẫn nước vào bể.
2. Ống thoát nước.
3. Ống thông hơi.
4. Cửa thông nước.
5. Cửa thông khí.
I- Ngăn chứa.
II- Ngăn lắng.
Hình 12 -1 - Có 2 loại bể thông dụng.
a. Bể tự hoại kiểu lắng (không có ngăn lọc) :
Dùng để xử lý tất cả các loại nước bẩn sinh hoạt ( phân , nước tiểu , tắm , rửa , giặt ... ). Nó có dạng một bể chứa , hình tròn hoặc chữ nhật , có thể xây 1 , 2 hoặc 3 ngăn .Khi lưu lượng nước vào bể ≥ 5 m3 ngày đêm thì phải làm từ 2 ngăn trở lên . Khi làm nhiều ngăn , ngăn đầu có thể tích lớn hơn , cặn bã đọng lại ở đấy nhiều hơn ( nếu làm 2 ngăn , ngăn đầu lấy bằng 0,75 dung tích tính toán ; nếu 3 ngăn thì ngăn đầu bằng 0,5 còn các ngăn 2 và 3 mỗi ngăn lấy bằng 0,25 dung tích tính toán). Dung tích nhỏ nhất của bể cũng không nên nhỏ hơn 5 m3 . Thời gian nước đi qua bể từ 1 - 4 ngày.
Nguyên tắc làm việc của bể:
Toàn bộ nước bẩn sinh hoạt thoát từ trong nhà ra đều được cho chảy vào bể tự hoại. Khi đó trong bể xảy ra hai quá trình lắng cặn và lên men cặn lắng.
Nguyên tắc làm việc của quá trình này như sau : Nước chảy từ từ qua bể , dưới tác dụng của trọng lượng bản thân các hạt cặn ( phân , cát , bùn...) rơi xuống
chứa ở đáy bể. Ở đây nhờ sự hoạt động của các vi sinh vi sinh vật yếm khí ( không thích không khí ) các chất hữu cơ nói chung bị ô xy hoá , thành bã vô cơ lắng xuống , các chất khí tách ra bay lên mặt nước trong bể, các vi trùng bị tiêu diệt. Cặn lắng lên men, thối rữa , mất mùi hôi thối , do đó thể tích giảm đi. Sau một thời gian làm việc ( 1 - 6 tháng, 1 năm ) khi bể đầy, người ta tiến hành hút cặn lắng thối rữa làm phân bón cho nông nghiệp hoặc cho chất tẩy vi sinh làm tan cặn bã.
Ưu điểm của bể là có khả năng giữ lại các cặn lắng lơ lửng cao , kết cấu đơn giản , dễ sử dụng và kinh tế .
Nhược điểm là do việc thường xuyên bổ sung cặn lắng tươi vào bể , nên quá trình nứt tách các chất hữu cơ có chứa Các bon luôn luôn tạo thành các A xit béo làm chậm dần quá trình lên men của bể. Mặt khác trong quá trình làm việc các bọt khí ( CH4 , CO2 , SH2 ) rất nhỏ tách ra từ các liên kết hữu cơ nổi lên trên mặt bể kéo theo các hạt cặn , tạo thành lớp váng cặn rất dày ( có khi lên đến 0,5 - 1m ), cản trở quá trình bốc các hơi lên . Hơn nữa cặn lắng nổi lên rơi xuống từ lớp váng cặn này lại làm cho nước đã sạch lại bẩn đi , nước ra khỏi bể sẽ có mùi H2S rất khó chịu và có tính A xit , dưới tác dụng của H2S nếu thành bể được làm bằng bê tông thì sẽ bị phá hoại một cách nhanh chóng
Cách tính toán dung tích bể (W) bể tự hoại kiểu lắng tính theo công thức sau: W = Wn + Wb (m3 )
Wn - Dung tích phần nước của bể , có thể tính bằng 1 – 3 lần lưu lượng nước ngày đêm chảy vào bể.
Wh – Dung tích phần bùn của bể (m3)
Với điều kiện Việt Nam nhiệt độ của nước thoát tương đối cao, do đó có thể trong vòng 1 – 3 tháng , lấy cặn bã một lần, tuy nhiên nếu càng để lâu trong bể thì cặn lắng càng lèn chặt tức là thể tích càng giảm đi và độ ẩm cũng giảm đi.
Ta có thể tính dung tích bể theo công thức thực nghiệm đơn giản sau W = N. (m3)
W – Dung tích bể tính toán N – Số người mà bể phục vụ
- hệ số phụ thuộc vào tiêu chuẩn dung nước (tra bảng) Hệ số phụ thuộc vào tiêu chuẩn dùng nước
Tiêu chuẩn
dung nước 75 lít 100 125 150 200 250 300
Hệ số 0,135 0,16 0,185 0,21 0,26 0,31 0,36
Cấu tạo bể :
Vật liệu: Bể tự hoại có thể xây bằng gạch, bê tông hoặc làm bằng chum, vại và phải có biện pháp chống thấm cho tốt (bọc đất sét xung quanh láng vữa xi măng, quét nhựa đường … ) dày 30mm
- Vị trí đặt dưới sàn khu vệ sinh gắn với móng nhà hoặc đưa ra ngoài nhà, sử dụng cho một ngôi nhà hay cả nhóm nhà.
- Kích thước của bể thường lấy chiều rộng không nhỏ hơn 0,75m, chiều cao nhỏ nhất 1,3m và dung tích bể tối thiểu 5m3
- Các chỉ tiêu cụ thể: Tường bể dày tối thiểu 22cm, xây bằng loại gạch đặc, tốt, vữa xi măng cát, mặt tường và đáy bể trát bằng vữa xi măng cát vàng. Đáy bể bằng bê tông gạch vỡ, bê tông đá dăm hay bê tông cốt thép tùy theo dung tích của bể và sức chịu lực của đất nơi đặt bể. Nắp bể bằng bê tông cốt thép đúc liền hay lắp ghép trên nắp bể có chừ cửa lên xuông kích thước 50 x 50cm. Đường ống dẫn phân, nước vào bể được nối liền với các ống xả từ trong nhà chảy ra hay ống tập trung ngoài nhà, trước khi đi vào bể phải đi qua giếng kiểm tra khi cần.
Đầu ống dẫn phân nằm trong bể phải ngập sâu dưới mặt nước cao nhất là 0,40m, ống làm bằng gang hay sành, nhựa có đường kính D ≥ 100mm, ngay tại đầu ống dẫn phân vào bể có cửa thông tắc có nắp đậy.
Thông hơi giữa 3 ngăn của bể có những lỗ vuông 20 x 20cm. Lỗ thông hơi cách mặt nước thiết kế ít nhất 40cm.
Tường ngăn giữa các ngăn chứa, lắng có chừa những lỗ vuông 20 x 20cm, vị trí các lỗ này nằm khoảng 0,4 – 0,6 chiều cao bể . Độ cao ống dẵn vào và ra phải bằng nhau, để luôn luôn giữ một lượng nước tối đa trong bể, bảo đảm có thời gian nước bẩn phân hóa được tốt.
-Trước khi sử dụng, trong bể phải có một khối lượng nước có chiều cao bằng chiều cao mực nước thiết kế, để phân có thời gian phân hóa và lắng xuống một phần trước khi chảy sang ngăn lắng thứ nhất.
-Thường xây bể chìm dưới đất phụ thuộc vào cốt của đường ống tháo nước từ nhà ra bể
b. Bể tự hoại có ngăn lọc
Bể có hình dạng giống bể tự hoại kiểu lắng, chỉ khác là ngăn cuối là ngăn lọc. Bể chỉ xử lý nước phân, tiểu (nước tắm, rửa cho vào mạng lưới thoát nước mưa).
Hình 12 -2: Sơ đồ nguyên lý thiết kế bể phốt tự hoại có bể lọc
Phải đảm bảo hai yêu cầu: Thông hơi và thoát nước tốt, nếu hầm rút tự rút nước phải rút tốt. Ngoài ra cần chống thấm tốt và tạo điều kiện cho hệ vi sinh vật hoạt động phân hủy chất thải.
Thực tế có trên 70% các lỗi bảo hành việc thoát phân có vấn đề là do thi công hầm cầu không đúng kỹ thuật và hầm không thông hơi cũng như không rút hoặc thoát nước được
- Nguyên tắc làm việc của bể : Phân là những chất cặn bã trong người thải ra vào ngăn chứa … nó là những liên kết hữu cơ phức tạp. Trong phân có vi trùng yếm khí, dưới tác dụng của chung, phân được phân hủy thành bã vô cơ và các khí hỗn hợp CH4, N2, NH4, H2S… bã vô cơ lắng xuống đáy bể. Nước và các vi trùng được chảy sang ngăn lọc. Ở đây các vi trùng yếm khí chết, nước được lọc qua lớp vật liệu lọc, trở thành nước trong chảy ra giếng kiểm tra.
- Trước khi sử dụng, nên cho nước đầy bể tự hoại đến độ cao thiết kế. Bể tự hoại loại này chỉ xử lý được phân, nước tiểu còn có quan điểm cho rằng các loại nước mang nhiều chất dầu mỡ xà phòng sẽ không làm cho vi trùng yếm khí tồn tại do vậy việc phân hóa trong bể sẽ gặp khó khăn.
Đường ống thải từ ngăn lọc ra phải phù hợp với đường ống thoát ngoài nhà về cao độ, hay mức nước ở sông hồ.
Ưu điểm của loại bể này là nước ra khỏi bể trong hơn, ít vi trung hơn loại bể không có ngăn lọc. Nhưng có nhược điểm và giá thành xây dựng cao (thêm ngăn lọc), quản lý phức tạp và tốn kém hơn (Phải rửa và thay lớp vật liệu này qua một thời gian sử dung) va chiều sâu ống ra từ bể lọc lớn
- Cách tính toán dung tích bể vì bể có 2 phần chứa lắng và lọc, có tác dụng và cấu tạo khác nhau nên dung tích của 2 phần được tính riêng.
b. Dung tích ngăn chứa và lắng
- Nếu phục vụ từ người thứ 1 đến người thứ 6 mỗi người cần có một dung tích 0,250m3.
- Nếu phục vụ từ người thử 7 đến người thứ 50, mỗi người cần có một dung tích : 0,20m3.
- Nếu phục vụ từ người thứ 50 trở lên mỗi người chỉ cần một dung tích 0,166m3.
Vậy khi biết số người mà 2 ngăn chứa và lắng phục vụ ta có thể tính ngay được dung tích của chúng.
c. Cấu tạo bể tự hoại có ngăn lọc
Nói chung về hình dáng, cốt liệu và các yêu cầu kỹ thuật của bể cũng ging như bể tự hoại kiểu lắng 3 ngăn. Nhưng ngăn thứ 3 của bể tự hoại ngăn lọc là ngăn lọc. Trong đó có bố trí 4 lớp vật liệu lọc (chiều cao tổng cộng từ 0,60 – 1m). Vật liệu to, nặng xếp từ dưới lên trên như sau :
Gạch vỡ 50 x 60mm, gạch vỡ 30 x 40mm, than xỉ và than củi.
Phía trên lớp vật liệu lọc, có xây máng phân phối nước kích thước : Sâu 10cm, rộng 10 – 50cm chạy vòng quanh hay có một số máng thẳng.
Dưới đáy vật liệu lọc có tấm đan đục lỗ có rãnh và ống thu nước lọc đưa ra giếng kiểm tra.
2. Chuẩn bị dụng cụ thiết bị vật tư
Mục tiêu: Để chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ, vật tư cho công tác lắp đặt
* Dụng cụ phục vụ lắp đặt
- Dụng cụ phục vụ công tác xây trát
- Các dụng cụ khác gồm có : Búa, đục, khoan …
* Vật tư :
- Gạch chỉ, xi măng, cát.
- ễ́ng và phụ kiện nối ống, cỳt vuụng ứ 60 3. Đo lấy dấu
Mục tiêu: Xác định được các vị trí lắp đặt thiết bị
- Đọc bản vẽ để xác định vị trí của bể trên mặt bằng và cao độ đặt đáy bể - Dùng vạch dấu ghi lại vị trí của bể trên mặt bằng công trình