V. NỘI DUNG GIÁO DỤC
1.3. Căn cứ vào quan điểm xây dựng CT và kế hoạch giáo dục trong CT môn GDCD
- Về quan điểm xây dựng CT, CT môn GDCD quy định nội dung môn học này phải bảo đảm các yêu cầu sau:
+ Bảo đảm tính khoa học, tính sƣ phạm, tính thực tiễn và tính hệ thống.
+ Chú trọng tích hợp các nội dung giáo dục cơ bản, thiết thực, hiện đại về kĩ năng sống, đạo đức, pháp luật, kinh tế; tích hợp nhiều chủ đề giáo dục cần thiết như: môi trường, bình đẳng giới, di sản văn hoá, phòng chống tệ nạn xã hội, tài chính,...
30
+ Được xây dựng theo hướng mở. Cụ thể là CT chỉ quy định những nội dung dạy học cơ bản, cốt lõi cho mỗi lớp học nhằm đáp ứng yêu cầu cần đạt. Căn cứ vào các yêu cầu cần đạt và định hướng chung của CT, các tác giả sách giáo khoa, cơ sở giáo dục và giáo viên môn học chủ động, sáng tạo trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung dạy học phù hợp với đối tƣợng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục.
- Về kế hoạch giáo dục, CT môn GDCD quy định thời lƣợng dành cho các mạch nội dung giáo dục ở các lớp. Theo đó, thời lƣợng dành cho các nội dung giáo dục trong môn GDCD do tác giả sách giáo khoa và giáo viên chủ động sắp xếp căn cứ vào yêu cầu cần đạt ở mỗi lớp và thực tế dạy học, nhƣng phải bảo đảm tỉ lệ % đƣợc quy định trong CT môn GDCD.
1.4. Kế thừa nội dung giáo dục của CT hiện hành
- Kế thừa quan điểm xây dựng nội dung môn học nhƣ: “đảm bảo tính hệ thống, tính phát triển của các giá trị; đáp ứng đƣợc mục tiêu của cấp học, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng nhận thức của học sinh”; “gắn bó chặt chẽ với cuộc sống thực tiễn của học sinh, gắn liền với các sự kiện trong đời sống đạo đức, pháp luật, kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương, của đấy nước” và
“có phần “mở” để dạy các vấn đề cần quan tâm của địa phương” [1].
- Kế thừa những nội dung giáo dục của CT hiện hành với những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại, phù hợp với đặc điểm con người, văn hoá Việt Nam, các giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị chung của nhân loại cũng như các sáng kiến và định hướng phát triển chung của UNESCO về giáo dục. Ban soạn thảo CT kế thừa và tổ chức lại các nội dung giáo dục đó cho phù hợp với yêu cầu cần đạt của CT mới về phẩm chất, năng lực.
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình giáo dục phổ thông môn Giáo dục công dân, NXB Giáo dục, H.2006, tr.7.
31
- Kế thừa cách cấu trúc các mạch nội dung là: xoay quanh các mối quan hệ với bản thân, với người khác, với công việc, với cộng đồng, đất nước, nhân loại, với môi trường tự nhiên và mở rộng, nâng cao dần từ tiểu học đến trung học cơ sở.
1.5. Tham khảo, tiếp thu kinh nghiệm của các nước phát triển
Nội dung giáo dục trong CT môn GDCD đƣợc thiết kế dựa trên tham khảo CT môn học của một số nước như như Anh, Mỹ, Úc, Hàn quốc, Singapore, Malaixia, Nhật Bản, Đức, Trung Quốc, HongKong,
… và đã tiếp thu những kinh nghiệm sau đây:
a) CT mới được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực, không nhằm mục tiêu truyền thụ kiến thức, mà nhằm mục tiêu hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cho người học. Định hướng này được thể hiện nhất quán ở nội dung giáo dục, phương pháp dạy học và đánh giá kết quả giáo dục.
b) CT mới được xây dựng theo hướng mở: chỉ quy định yêu cầu cần đạt và nội dung cơ bản, cốt lõi, bắt buộc với học sinh toàn quốc, không quy định cụ thể, chi tiết nội dung các bài học. Các tác giả sách giáo khoa, cơ sở giáo dục và giáo viên môn học căn cứ vào những quy định đó để chủ động, sáng tạo lựa chọn, bổ sung nội dung giáo dục phù hợp với đối tƣợng học sinh và điều kiện kinh tế - xã hội ở từng cơ sở giáo dục nhằm giúp học sinh đáp ứng yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực.
1.6. Căn cứ vào yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực
Đây là căn cứ quan trọng nhất quyết định việc thiết kế nội dung giáo dục vì yêu cầu cần đạt là cụ thể hóa mục tiêu giáo dục của CT và nội dung giáo dục là phương tiện để thực hiện yêu cầu cần đạt.
VD: Căn cứ vào yêu cầu cần đạt về phẩm chất được quy định trong CT môn GDCD là 5 phẩm chất (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm), Ban soạn thảo CT đã xác định 5 mạch nội dung giáo dục đạo đức trong CT môn Đạo đức (ở tiểu
32
học) và môn GDCD (ở trung học cơ sở) là: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Điều này khác với CT hiện hành là nội dung giáo dục gồm 5 mối quan hệ (với bản thân; với người khác; với công việc; với cộng đồng, đất nước, nhân loại;
với môi trường tự nhiên).
Bước tiếp theo là căn cứ vào yêu cầu cần đạt đối với mỗi phẩm chất, Ban soạn thảo CT xác định các chủ đề nội dung cụ thể ở mỗi lớp. Các chủ đề nội dung này mở rộng, nâng cao dần xoay quanh các mối quan hệ của học sinh từ lớp 1 đến lớp 9 và đƣợc thiết kế phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh.
Trong thực hiện CT, các cơ sở giáo dục, tác giả sách giáo khoa, giáo viên môn học cũng phải căn cứ vào yêu cầu cần đạt và nội dung cốt lõi, bắt buộc đã quy định trong CT để chủ động, linh hoạt lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp với điều kiện học tập của học sinh và tình hình cụ thể ở địa phương, nhưng phải đáp ứng được yêu cầu cần đạt của CT.
2. Nội dung giáo dục cụ thể của chương trình môn GDCD
2.1. Giải thích cách trình bày nội dung GD trong chương trình môn GDCD
a) Nội dung giáo dục là phương tiện để thực hiện yêu cầu cần đạt
Ở các lớp học, mỗi chủ đề nội dung giáo dục cụ thể đều đƣợc trình bày gắn liền với yêu cầu cần đạt cụ thể. Cột bên trái nêu nội dung giáo dục. Cột bên phải nêu yêu cầu cần đạt. Cách trình bày cho thấy nội dung giáo dục là phương tiện để thực hiện yêu cầu cần đạt. Vì giáo dục công dân là giáo dục thái độ, hành vi nên khác với các môn học và hoạt động giáo dục khác thường trình bày nội dung giáo dục bằng các danh từ, môn GDCD trình bày nội dung giáo dục bằng các danh – động từ. Yêu cầu cần đạt đƣợc thể hiện bằng các động từ (nêu được, giải thích được, nhận biết được, xác định được, phân tích được, so sánh được, đánh
33
giá được, chỉ ra được, thực hiện được,…). Yêu cầu cần đạt ở lớp học sau cao hơn yêu cầu cần đạt ở lớp học trước và đều không vƣợt quá yêu cầu cần đạt đã nêu trong CT tổng thể (Mục IX.2. Biểu hiện phẩm chất của học sinh).
b) Nội dung giáo dục được xây dựng theo hướng “mở”
Quyết định số 404 của Thủ tướng Chính phủ quy định: “CT mới phải xác định cụ thể nội dung và yêu cầu cần đạt đối với mỗi lớp nhƣng không quá chi tiết để căn cứ vào chương trình biên soạn được nhiều sách giáo khoa”.
Theo định hướng trên, nội dung giáo dục trong CT môn GDCD được xây dựng có tính “mở”. Tính “mở” cũng là đặc điểm chung của CT môn học này ở các nước có nền giáo dục phát triển, là quan điểm xây dựng CT của CT tổng thể và tất cả các môn học, hoạt động giáo dục trong CT GDPT mới.
Tính “mở” về nội dung giáo dục đƣợc hiểu là: CT chỉ quy định những yêu cầu cần đạt, những chủ đề nội dung cốt lõi, bắt buộc cho học sinh toàn quốc, không quy định nội dung chi tiết cho các chủ đề, các bài học. Căn cứ vào các yêu cầu cần đạt và định hướng chung bắt buộc của CT, các tác giả sách giáo khoa, cơ sở giáo dục và giáo viên môn học chủ động, sáng tạo trong việc triển khai kế hoạch giáo dục, lựa chọn, bổ sung các nội dung dạy học, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục cụ thể theo yêu cầu phát triển chương trình. Giáo viên được lựa chọn sách giáo khoa và sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau để dạy học, nhƣng phải bám sát mục tiêu và đáp ứng yêu cầu cần đạt của CT.
2.2. Định hướng nội dung giáo dục của chương trình môn học
Theo định hướng nội dung giáo dục của CT môn GDCD đã nêu trong CT tổng thể; đồng thời căn cứ vào các yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đƣợc quy định tại CT tổng thể và năng lực đặc thù đƣợc quy định tại CT môn GDCD,
34
CT môn GDCD xác định 4 mạch nội dung và triển khai các mạch nội dung đó thành các chủ đề học tập ở từng lớp học, các chuyên đề học tập ở cấp trung học phổ thông. Bốn mạch nội dung xuyên suốt 3 cấp học là:
a) Giáo dục đạo đức; b) Giáo dục kĩ năng sống; c) Giáo dục pháp luật; d) Giáo dục kinh tế.
a) Giáo dục đạo đức là quá trình tác động sƣ phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm giáo dục học sinh ý thức, hành vi đạo đức phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội và quy định của pháp luật; trên cơ sở đó hình thành, phát triển cho học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực cần thiết của người công dân Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển cá nhân và thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân.
Nội dung giáo dục đạo đức gồm 5 mạch nội dung là: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Trong môn Đạo đức ở tiểu học, nội dung giáo dục đạo đức chiếm khoảng 55% đến 60% tổng thời lƣợng dành cho môn Đạo đức. Trong môn GDCD ở trung học cơ sở, nội dung giáo dục đạo đức chiếm khoảng 35% tổng thời lƣợng dành cho cả CT môn GDCD. Trong môn GD KT&PL ở cấp trung học phổ thông, giáo dục đạo đức đƣợc lồng ghép trong các nội dung giáo dục kinh tế và pháp luật, chủ yếu giáo dục nhận thức, tình cảm, niềm tin, bản lĩnh để học tập và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm công dân.
b) Giáo dục kĩ năng sống là quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch để hình thành cho người học những hành động tích cực, hành vi lành mạnh, phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật để tự bảo vệ, phát triển bản thân và duy trì, phát triển mối quan hệ hoà hợp với người khác; trên cơ sở đó hình thành, phát triển cho học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực cần thiết của người công dân Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển cá nhân và thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân.
Giáo dục kĩ năng sống là yêu cầu quan trọng để hình thành nhân cách con người hiện đại, góp phần tạo ra năng lực giúp con người sống an toàn, lành mạnh và có chất lượng trong cuộc sống với nhiều thách thức do sự biến đổi nhanh chóng, phức tạp và
35
hết sức đa dạng của xã hội, kinh tế, văn hóa và hội nhập quốc tế. Việc đƣa nội dung giáo dục kĩ năng sống vào CT GDPT là rất cần thiết. Nhiều môn học và hoạt động giáo dục khác cũng có nội dung giáo dục kĩ năng sống. Trong CT môn GDCD, giáo dục kĩ năng sống không dừng ở việc cung cấp kiến thức mà tập trung vào việc hình thành hoặc thay đổi hành động tích cực, hành vi lành mạnh phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật. Phù hợp với thời lƣợng dành cho môn học đã quy định trong CT tổng thể và phù hợp với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở, nội dung giáo dục kĩ năng sống trong CT môn GDCD đƣợc thiết kế gồm 2 mạch nội dung cần thiết là giáo dục kĩ năng nhận thức, quản lí bản thân và kĩ năng tự bảo vệ. Các nội dung này chiếm khoảng 25% đến 30% tổng thời lượng chương trình môn Đạo đức (ở tiểu học); khoảng 20% tổng thời lượng chương trình môn GDCD (ở trung học cơ sở) và đƣợc lồng ghép trong các chủ đề giáo dục kinh tế và pháp luật trong môn Giáo dục kinh tế và pháp luật (ở trung học phổ thông).
c) Giáo dục pháp luật là quá trình tác động sƣ phạm có mục đích, có kế hoạch giúp học sinh có ý thức, hành vi phù hợp với quy định của pháp luật; có tri thức phổ thông, cơ bản, thiết thực đối với đời sống và định hướng nghề nghiệp về pháp luật, trên cơ sở đó hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực cần thiết của người công dân Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển cá nhân và thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân.
Trong CT môn GDCD ở cả 3 cấp học, giáo dục pháp luật gồm các mạch nội dung là: chuẩn mực hành vi pháp luật, quyền và nghĩa vụ công dân, hệ thống chính trị và pháp luật. Ở môn Đạo đức (cấp tiểu học), nội dung giáo dục pháp luật chỉ là giáo dục chuẩn mực hành vi pháp luật. Ở môn GDCD, nội dung giáo dục pháp luật là giáo dục quyền và nghĩa vụ công dân. Ở môn GD KT&PL, nội dung giáo dục pháp luật gồm: quyền và nghĩa vụ công dân; hệ thống chính trị và pháp luật.
36
Việc thiết kế nội dung này trong CT môn GDCD ở cả 3 cấp học là cần thiết vì quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ công dân và chuẩn mực hành vi đạo đức là hai nhân tố chủ yếu tác động đến thái độ, hành vi của người công dân. Do hạn chế về thời lƣợng đã quy định trong CT tổng thể nên ngoài các chủ đề nội dung giáo dục pháp luật cần thiết và phù hợp với lứa tuổi học sinh đƣợc thiết kế cho các lớp (chiếm khoảng 10% tổng thời lƣợng CT môn Đạo đức ở tiểu học; 25% tổng thời lƣợng CT môn GDCD ở trung học cơ sở; 45% tổng thời lƣợng CT môn Giáo dục kinh tế và pháp luật ở THPT), tác giả sách giáo khoa và giáo viên môn học có thể chủ động, linh hoạt lồng ghép giáo dục pháp luật vào trong các chủ đề giáo dục đạo đức, kĩ năng sống và giáo dục kinh tế.
d) Giáo dục kinh tế là quá trình tác động sƣ phạm có mục đích, có kế hoạch giúp học sinh có ý thức và hoạt động kinh tế phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật; có tri thức phổ thông, cơ bản, thiết thực đối với đời sống và định hướng nghề nghiệp về kinh tế; trên cơ sở đó hình thành, phát triển cho học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực cần thiết của người công dân Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển cá nhân và thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân.
Trong CT môn GDCD ở cả 3 cấp học, giáo dục kinh tế gồm có các mạch nội dung là: hoạt động của nền kinh tế, hoạt động kinh tế của nhà nước, hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động tiêu dùng.
Để phù hợp với thời lƣợng dành cho môn học đã quy định trong CT tổng thể và phù hợp với lứa tuổi học sinh, CT môn Đạo đức (cấp tiểu học) và GDCD (cấp trung học cơ sở) chỉ thiết kế một nội dung giáo dục là hoạt động tiêu dùng, chiếm khoảng 10% tổng thời lƣợng CT môn học; CT môn GD KT&PL (cấp THPT) thiết kế cả 3 nội dung (hoạt động của nền kinh tế, hoạt động kinh tế của nhà nước, hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động tiêu dùng), chiếm khoảng 45% tổng thời lượng CT môn học.
37
Ở môn Đạo đức (cấp tiểu học) và GDCD (cấp trung học cơ sở), giáo dục hoạt động tiêu dùng đƣợc thực hiện thông qua nội dung giáo dục tài chính. Đây là nội dung giáo dục cần đƣợc lồng ghép trong CT giáo dục phổ thông, đúng nhƣ khuyến cáo của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế): “Giáo dục tài chính nên bắt đầu từ trường học. Người dân cần được giáo dục các vấn đề tài chính càng sớm càng tốt trong cuộc đời của họ”. Khuyến cáo này cần được chú trọng vì trong nền kinh tế thị trường, hiểu biết về tài chính có tác động quan trọng đến “sức khỏe” tài chính của mỗi cá nhân, giúp nâng cao hiểu biết về tài chính của cá nhân, giúp cá nhân đƣa ra những quyết định hiệu quả trong nhiều bối cảnh tài chính để cải thiện đời sống và tạo điều kiện tham gia vào đời sống kinh tế. Kinh nghiệm từ CT giáo dục phổ thông ở các nước phát triển (Nhật bản, Hợp chủng quốc Hoa kỳ, Ôt-xtrây-lia, Niu Di-lân, Anh quốc, Malayxia,…) cho thấy nội dung giáo dục tài chính đƣợc lồng ghép trong các môn học ngay từ cấp mẫu giáo và tiểu học [2].
Ngoài ra, tác giả sách giáo khoa và giáo viên môn học có thể chủ động lựa chọn, bổ sung để lồng ghép nội dung giáo dục tài chính trong các bài học về giáo dục đạo đức, kĩ năng sống và pháp luật, nhƣng phải phù hợp với yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực đƣợc quy định trong CT môn học này.
2.3. Kế thừa chương trình hiện hành trong chương trình môn GDCD CT mới kế thừa nhiều ưu điểm của chương trình hiện hành như sau:
a) Kế thừa mục tiêu của CT hiện hành về kiến thức, kĩ năng, thái độ và tổ chức lại trong mục tiêu và yêu cầu cần đạt của CT mới về phát triển phẩm chất và năng lực.
2 Ở Nhật Bản, giáo dục tài chính đƣợc lồng ghép từ CT cấp tiểu học vào các bài học về cuộc sống hàng ngày, nghiên cứu xã hội, chăm sóc gia đình, đạo đức, học tập lồng ghép và các hoạt động đặc biệt. Ở Hoa kỳ, giáo dục tài chính đƣợc lồng ghép từ CT mẫu giáo đến hết lớp 12. Ở Ôt-xtrây-lia, giáo dục tài chính đƣợc lồng ghép vào CT từ mẫu giáo đến lớp 10 trong các môn Toán, Khoa học, Tiếng Anh,…. Ở Malayxia, giáo dục tài chính đƣợc lồng ghép vào từ CT lớp 3 trong môn Toán, Đạo đức và tiếng Malayxia. Ở Anh quốc, giáo dục tài chính đƣợc lồng ghép vào từ CT tiểu học trong môn Toán và Giáo dục công dân.
38