172 GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế phát triển (Trang 170 - 188)

Phần trình bày sau đây chỉ nêu những biện pháp cơ bản để phát triển nông nghiệp nước ta từ nay đến năm 2010 gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân nước ta.

Trước hết, phải khẳng định rằng, trong thập kỷ

tới, việc phát triển nông nghiệp nước ta gặp phải những khó khăn, thách thức rất lớn: thực hiện . những cam kết theo lộ trình gia nhập AFTA; đất nông nghiệp bình quân theo đầu người quá thấp;

hàng năm vẫn có thêm hàng triệu người bước vào độ tuổi lao động; chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh của nền nông nghiệp còn thấp; năng lực yếu kém của kinh tế hộ - chủ thể sản xuất chính trong nông nghiệp v.v.. Từ đó, bắt buộc nước ta phải tiếp tục có những biện pháp phù hợp, được chỉ đạo thực hiện một cách nhất quán để thúc đẩy

nông nghiệp phát triển..

a) Phát triển thị trường, tổ chức tiêu thụ nông san va hàng hóa khác sản xuất từ nông thôn

Nền nông nghiệp nước ta chuyển sang nền nông nghiệp hàng hóa chưa lâu và mới ở mức độ thấp nhưng đã xuất hiện tình trạng tiêu thụ nông sản :khó khăn, nhiều loại tổn đọng với số lượng lớn.

Nguyên nhân cơ bản là lâu nay, nước ta chủ yếu vẫn bán những nông sản đã sản xuất.

Về lâu dài, phải tiếp cận lại thị trường, phân tích lợi thế một cách cơ bản để xác định cơ cấu kinh tế, chiến lược sản phẩm, tạo ra chủng loại hàng hóa mà thị trường có nhu cầu thực sự và nước ta có khả năng cạnh tranh. Phát triển công nghiệp chế biến, khoa học công nghệ, kết cấu hạ tầng để nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của hàng hóa.

Nâng cao chất lượng thông tin thị trường, giá cả, tổ chức lại hệ thống thị trường, chống buôn bán và

gian lận thương mại... Phải khẳng định tiêu thụ

nông sản và các hàng hóa sản xuất từ nông thôn là công việc liên quan đến nhiều khâu, nhiều cấp, là kết quả vươn lên của cả các chủ thể sản xuất, chế biến, lưu thông hàng hóa và sự đổi mới về chính sách và tổ chức của Nhà nước.

b) Phát triển công nghiệp chế biến, tăng

cường ứng dụng bhoa học - công nghệ để nâng cao năng suốt, chất lượng, họ chỉ phí uà khả năng cạnh tranh của hàng hóa

Để phát triển công nghiệp chế biến nông sản, điều quan trọng nhất là trên cơ sở nhu cầu của thị trường, tạo ra sự liên kết ngay từ đầu giữa nông ` nghiệp nguyên liệu và công nghiệp chế biến theo từng loại nông sản ở những vùng cụ thể. Những kinh nghiệm về kết hợp giữa nhu cầu thị trường, -

174 GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN

công nghiệp chế biến và sản xuất nông sản của vùng mía đường Lam Sơn (Thanh Hóa)và một số địa phương khác cần được tiếp tục tổng kết và nhân rộng.

Mỏ rộng ứng dụng khoa học - công nghệ là công

việc lâu dài, trước mắt cần gắn hoạt, động công nghệ theo từng ngành hàng ở cả ba quá trình: sản xuất nguyên liệu, chế biến và tổ chức tiêu thụ.

Hiện nay, chủ thể chính trong sản xuất nông nghiệp là kinh tế hộ nông dân, do đó, sự giúp đỡ, hỗ trợ toàn diện của Nhà nước, của các đơn vị nghiên cứu, chuyển giao công nghệ cho nông dân là yêu cầu cấp bách. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã xác định những vấn đề cơ bản để tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ vào việc phát triển nông nghiệp,

nông thôn. Trước hết, cần khẳng định đẩy mạnh

việc nghiên cứu, chuyển giao công nghệ là khâu đột, phá quan trọng nhất để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Hoạt động khoa học, công nghệ trong thời gian tới cần tập trung các vấn dé co ban sau đây: lựa chọn hướng ưu tiên là phát triển công nghệ sinh học, đổi mới giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ bảo quản, chế biến nông sản; đối mới cơ chế quản lý khoa học,

công nghệ, nhất là cơ chế tài chính và nhân sự; tổ chức lại và phát triển hệ thống các cơ sở nghiên cứu, chuyển giao khoa học, công nghệ; có chính sách huy động tổng hợp các nguồn lực nghiên cứu, nhập khẩu, chuyển giao các thành tựu khoa học, công nghệ.

Quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là quá trình tăng tỷ lệ các đầu vào phi nông nghiệp trong sản phẩm nông nghiệp, hợp lý hóa quá trình sản xuất và lưu thông các sản phẩm công nghiệp và khoa học - công nghệ phục vụ nông nghiệp cần được chú trọng.

c) Từng bước xây dựng đồng bộ hệ thống kết

cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn.

Đây là công việc lâu dài, phải tiến hành nhiều thập kỷ. Trước mắt, cần có những biện pháp huy động đa dạng các nguồn lực để xây dựng những cơ sở kết cấu hạ tầng cơ bản như thủy lợi, điện, đường giao thông, chợ và các đầu mối lưu thông nông sản... Khả

năng tài chính có hạn của đất nước buộc chúng ta

phải cân nhắc lựa chọn việc xây dựng kết cấu hạ tầng

. nông nghiệp, nông thôn theo các hướng: ưu tiên những xã, những vùng đặc biệt khó khăn, những vùng sản xuất nông sản chuyên canh có tính chất

176 GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN

động lực, những khâu cơ bản, yếu kém nếu được đầu . tư thì sẽ tạo nên sự tiến bộ dây chuyền, những khâu, những vùng, sản phẩm có khả năng thu hồi vốn nhanh, vững chắc, khả năng sinh lợi cao...

Trong những năm trước mắt, hệ thống thủy lợi, giao thông, các cơ sở nghiên cứu chuyển giao giống, cấp điện, nước sinh hoạt, chế biến và lưu thông hàng hóa cần được ưu tiên phát triển.

d) Tang cường năng lực của binh tế hộ, mở rộng uà nâng cao hiệu quả của bình tế nhà nước, binh tế tập thể uà các hình thức bình tế

khúc trong nông nghiệp, nông thôn

Trước yêu cầu mới của cạnh tranh và công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế hộ nông dân đang bộc lộ những khó khăn, yếu kém trên nhiều mặt.

Kinh tế tập thể phát triển chậm, hiệu quả thấp, nhiều nơi mang tính hình thức. Kinh tế nhà nước trong nông nghiệp chưa làm tốt vai trò dẫn dắt, hỗ trợ, định hướng phát triển nông nghiệp. Năng lực tại chỗ yếu kém và môi trường kém hấp dẫn, đang hạn chế phát triển các hình thức kinh doanh đa dạng trong nông nghiệp, nông thôn.

Do đó, mở rộng và nhất là tạo ra sự liên kết, hỗ trợ giữa các thành phần kinh tế và hình thức kinh doanh trong nông nghiệp, nông thôn là yêu cầu cấp

bách. Trước mắt, cần ưu tiên tạo ra sự kết hợp ngay từ đầu giữa các hình thức kinh doanh trên cho từng vùng, từng ngành hàng cụ thể ở cả bốn quá trình:

xác định nhu cầu của thị trưởng trong và ngoài nước, tổ chức sản xuất nông nghiệp, công nghệ sau thu hoạch và chế biến, lưu thông, tiêu dùng hàng hóa.

ở) Tập trung sức xây dựng chính quyền cơ sở 0uà hệ thống chính trị nông thôn, tiếp tục hoàn thiện chính sách uà nâng cao hiệu lực chỉ đợo của Nhà nước

Chính quyền cơ sở và hệ thống chính trị nông thôn có vai trò quản lý đặc biệt. Những yếu kém, tiêu cực trong phát triển nông nghiệp, nông thôn có nguyên nhân quan trọng từ năng lực hạn chế và sự giảm sút phẩm chất, đạo đức của một bộ phận cán bộ cơ sở nông thôn. Hướng xây dựng chính quyền cơ sở:là: trên cơ sở nâng cao chất lượng cán bộ, tỉnh giảm biên chế để chính quyền cơ sở vừa có năng lực triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Dang, Nha nước đến từng hộ dân cư vừa phát hiện những thiếu sót trong chủ trương, chính sách và

chỉ đạo để kiến nghị thay đổi trên cơ sở phát huy

quyền dân chủ thực sự của nhân dân.

Hoàn thiện hệ thống chính sách nông nghiệp, nông thôn là công việc lâu dài, thường xuyên của

12- KIPT

178 GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN

các cấp Dang, chính quyền. Trước mắt, cần thực hiện có hiệu quả cải cách hành chính, ưu tiên thực hiện các chính sách thúc đẩy nhanh chuyển dich cd cấu kinh tế nông thôn, tiêu thụ hàng hóa, thu hút vốn và các nguồn lực khác về nông thôn, đưa tiến bộ khoa học - công nghệ vào nông nghiệp và kinh tế nông thôn, tạo việc làm, xây dựng đồng bộ hệ thống

kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn v.v..

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã xác định bốn nhóm chính sách cần được ưu tiên tập trung đổi mới đó là:

- Chính sách về đất đai;

- Chính sách về tài chính, tín dụng;

- Chính sách về lao động, việc làm;

- Chính sách về thương mại và hội nhập kinh tế.

Nước ta đang từng bước thực hiện chuyển sang giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ lệ thu nhập và lao động nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế và lao động xã hội có xu hướng giảm xuống. Tuy vậy, do đặc điểm nước ta, nên những chủ trương và biện pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa về kinh tế, chính trị, xã hội sâu sắc.

2. Định hướng phát triển công nghiệp nước ta Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chiến lược phát triển

kinh tế - xã hội 10 năm đầu của thế kỷ XXI. Chiến lược 10 năm 2001- 2010 là: đưa nước tảa khỏi tình trạng kém phát triển; ..tạo nền tảng đẻ đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nhgiệp theo hướng hiện đại... Đưa GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000. Tích kũy nội bộ nền kinh tế đạt trên 30% GDP. Tỷ trọng trong GDP của nông nhgiệp 16%

- 17%; công nghiệp 40% - 41%, dịch vụ 42-43%. Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 50% “4Ð,

Để đạt được các mục tiêu cụ thể trên công nghiệp phải đảm bảo: nhịp độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp (kể cả xây dựng) bình quân trong 10 năm tới đạt khoảng 10 - 10,5%. Đến năm 2010 công nghiệp và xây dựng chiếm 40 - 41% GDP và sử dụng 23 - 24% lao động. Giá trị xuất khẩu công nghiệp chiếm 70 - 75% tổng kim ngạch xuất khau®).

Kế hoạch 5 năm (2001 - 2008) là bước mở đầu quan trọng trong việc thực hiện chiến lược 10 năm (2001 - 2010). Theo đó, trong kế hoạch 5 năm phấn đấu “Đưa GDP năm 2005 gấp 2 lần so với năm

1995. Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hàng

năm thời kỳ 5 năm là 7,5%.

Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 16%/năm.

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, tr.159-160.

(2) Sdd, tr.175

180 GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN

Cơ cấu binh tế trong GDP đến năm 2005 dự hiến:

- Tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp 20 - 21%;

- Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng khoảng 38 - 39%;

- Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng khoảng 38 - 39%;

'- Tỷ trọng các ngành dịch vụ 41 - 42%”).

2.1. Định hướng phát triển các ngành công nghiệp Căn cứ để xác định hướng phát triển các ngành công nghiệp là dựa trên phân tích, dự báo các nhân tố ảnh hưởng, đặc điểm và vai trò của mỗi ngành công nghiệp trong việc đáp ứng các mục tiêu phát

triển kinh tế - xã hội của mỗi gia1 đoạn.

- Nhu cầu thị trường trong nước uà quốc tế có tác động trực tiếp đến sự phát triển công nghiệp.

Một quốc gia có quy mô, cơ cấu và thu nhập dân cư đảm bảo tạo ra thị trường trong nước có quy mô đủ lớn để khai thác lợi thế binh tế theo quy mô sẽ tạo cơ hội thuận lợi để phát triển ngành công

nghiệp phù hợp. Nếu quy mô thị trường trong nước nhỏ bé, việc phát triển dựa vào thị trường trong nước sẽ khó khăn, song có thể khắc phục được thông qua thương mại quốc tế để mở rộng ra thị trường ngoài nước. Tuy nhiện, khả năng mở rộng ra thị trường quốc tế lại bị ảnh hưởng đáng kể bởi

(1) Sdd, tr.264-265.

sự thay đổi của nhu cầu thị trường quốc tế, sự cạnh tranh uà mức độ tham gia hội nhập uùào nên binh tế thế giới của mỗi quốc gia. Thực hiện một nền kinh tế mở rộng và hội nhập quốc tế, các nước có thể

| thông qua thương mại quốc tế để phát triển các ngành dựa trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh với sự hỗ trợ của công nghệ để phát huy lợi thế cạnh tranh phát triển các ngành công nghiệp sản xuất các sản phẩm xuất khẩu. Trong bối cảnh ấy, các ngành công nghiệp sản xuất trên cơ sở khai thác thị trường trong nước cũng chịu sức ép của cạnh tranh quốc tế, nhất là khi tham gia đầy đủ các cam kết khu vực và quốc tế.

- Các nguồn lực trong nước và lợi thế so sánh của các nguồn lực đó cũng là nhân tố tác động đến sự phát triển của công nghiệp. Tùy theo quy mô, cơ

cấu, chất lượng và lợi thế so sánh của mỗi loại nguồn lực, mà mỗi quốc gia có thể tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển của mỗi ngành công nghiệp nhất định. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay và tùy theo sự mở cửa, hội nhập quốc tế, các nước đang phát triển cũng có cơ hội để thu hút cóc nguồn,

uốn, khoa học 0à công nghệ, các hang hoa tw bên ngoài (máy móc thiết bị, nguyên liệu và các bán thành phẩm trung gian...) để bù đắp sự thiếu hụt

182 GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN

các nguồn lực trong nước và phát triển các ngành - công nghiệp có khả năng phát triển. Song các nước cũng có thể bị sức ép làm chảy các nguồn lực, kể cả các nguồn lực khan hiếm như vốn, chất xám... ra khỏi nước và nảy sinh những vấn đề kinh tế vĩ mô tác động tiêu cực đến phát triển công hghiệp xuất phát từ mở cửa và hội nhập kinh tế đem lại.

-- Đặc điểm của sản phẩm, công nghệ chế biến, uà viéc su dung các yếu tố đầu uào của mỗi ngành công nghiệp cũng là yếu tố cần phải tính đến để lựa chọn các ngành cộng nghiệp phù hợp với việc khai thác lợi thế so sánh của các nguồn lực trong nước.

- Mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

của mỗi giai đoạn va vai trd moi ngành công nghiệp trong việc thực hiện các mục tiêu đó cũng là nhân tố quan trọng trong việc lựa chọn các ngành công nghiệp. Chẳng hạn, để phục vụ mục tiêu xuất khẩu cần phải hướng đến những ngành công nghiệp phát huy lợi thế so sánh trong nước để nâng cao năng lực cạnh tranh; để phục vụ mục tiêu giải quyết việc làm cần phải hướng đến các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động và ít vốn hơn,...

Nước ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên cơ sở thực hiện một nền kinh tế mở, hội nhập _ khu vực và quốc tế:

- Giai đoạn 2001 - 2005 là giai đoạn chuẩn bị thực hiện đầy đủ cam kết AF'TA và thực hiện quan hệ thương mại song phương Việt - Mỹ. Khi đó hàng hóa xuất khẩu vốn đã đòi hỏi phải có năng lực cạnh tranh trong thương mại quốc tế, càng phải chấp nhận mức độ canh tranh cao hơn ở những thị trường mà Việt Nam cam kết. Ngay thị trường trong nước cũng phải chấp nhận cạnh tranh mạnh mẽ đối với các sản phẩm tham gia cam kết (bãi bỏ mọi hàng rao phi thuế quan và giảm xuống mức tối thiểu hàng rào thuế quan). Trong bối cảnh như vậy cần định hướng “Phát triển nhanh các ngành công © nghiệp có khả năng phát huy lợi thế cạnh tranh"@),

Trước hết, đó là những ngành sử dụng nhiều tài

nguyên và lao động như công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, công nghiệp dệt may, da giày,... chủ yếu phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu, các ngành công nghiệp dịch vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Khai thác các nguồn ứà¿ nguyên sẵn có trong nước (dầu mỏ, khí đốt, quặng sắt, quặng kim loại màu...) nhằm tạo cơ sở nguyên liệu trong nước cho các ngành công nghiệp chế biến. Đồng thời, qua đó bạo ra mối liên kết kinh tế trong nội bộ ngành công nghiệp đi từ nguyên liệu sơ cấp, các bán thành (1) Sđd, tr.173.

184 GIÁO TRÌNH KINH. TẾ PHÁT TRIỂN

phẩm trung gian đến các sản phẩm cuối cùng. Nhờ quá trình liên kết đó để chủ động điều chỉnh chính

sách tạo điều kiện tăng khả năng cạnh tranh công

nghiệp. Việc phát triển các ngành trên đòi hỏi vốn đầu tư lớn, yêu cầu công nghệ cao, trong khi chất.

lượng và hiệu quả vẫn phải là tiêu chuẩn hàng đầu trong việc lựa chọn các quyết định. Vì vậy, cần phải

"Xây dựng có lựa chọn, có điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường và hiệu quả một số cơ sở công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất: dầu khí, luyện kim (thép, alumin, nhôm, kim loại quý hiếm..."@,

- Phát triển các ngành cơ khí nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước như chú trọng công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, đặc biệt là các tàu có trọng tải lớn.

Tăng khả năng chế tạo các dây chuyển thiết bị toàn bộ, thiết bị lẻ cho công nghiệp chế biến, nông cụ và máy nông nghiệp; các loại thiết bị cho các cơ sở công nghiệp vừa và nhở; phương tiện vận tải, mây công cụ, máy xây dựng, cơ khí tiêu dùng. Phát triển một số lĩnh vực hiện đại như cơ điện tử; từng bước đưa ngành cơ khí thành ngành công nghiệp mạnh),

- "Phát triển mạnh công nghiệp công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử"G@),

(1) Sdd, tr.280.

(2), (8)Sdd, tr.280, tr.283.

Một phần của tài liệu Giáo trình kinh tế phát triển (Trang 170 - 188)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(202 trang)