Trong xã hội nông thôn, hôn nhân luôn luôn giành được sự quan tâm của các cá nhân trong cộng đồng xã hội. Bởi vì kết quả của hôn nhân là gia đình hình thành.
Do vậy hôn nhân luôn được coi trọng.
- Ở nông thôn, hôn nhân là cơ sở dé hình thành gia đình, cho nên hôn nhân phải được sự kiểm soát của cộng đồng để đảm bảo tính liên tục của gia đình.
— Hôn nhân của người Việt Nam truyền thống không chỉ là việc hai người lấy nhau, mà là sự kiện hai bên cha mẹ, “hai họ” dựng vợ gả chồng cho con cái. Tục lệ này xuất phát từ quyền lợi của cộng đồng.
— Do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo cho nên đông con, nhiều cháu và nhất là con trai trở thành một giá trị cơ bản. Mục tiêu của hôn nhân là con cái, khi không có con hay không có con trai, cuộc sống hôn nhân của người vợ không được đảm bảo chắc chắn. Một trong các chuẩn mực và là giá trị hôn nhân của người Việt Nam trong xã hội truyền thống là có được con trai. Việc dựng vợ gả chồng cũng nhằm một mục tiêu là hoàn thành trách nhiệm của các bậc cha mẹ đối với tổ tiên.
Trách nhiệm của đôi vợ chồng mới là trung thành và có nghĩa vụ với tổ tiên: sinh con đẻ cái, duy trì, mở rộng dòng giống, tông tộc.
— Việc kén chọn dâu, rể ở nông thôn cũng có nhiều điểm đặc thù. Tiêu chuẩn chọn dâu, rễ cũng có những nét khác nhau. Nhưng thông thường những tiêu chuẩn này do bố mẹ xác định. Trong khuôn mẫu hôn nhân truyền thống, người dân nông
thôn hình dung về cô dâu phải là những người “chịu kham chịu khó”, phải có phẩm
chất “thảo hiền”, “ngoan ngoãn, lễ phép”. Dòng dõi cũng là một tiêu chí hết sức
quan trọng để kén chọn dâu rẻ. “Lấy vợ xem tông, kén chồng xem giống”. Van dé
địa vị xã hội của gia đình cũng là một yếu tố quan trọng (môn đăng hộ đối). Những chuẩn mực này cho đến nay vẫn tồn tại ở nhiều vùng nông thôn nói riêng và trong
các gia đình Việt Nam nói chung. :
— Một chuẩn mực truyền thống khác đó là, trong hôn nhân cắm loạn luân. Sự ra đời của thiết chế thân tộc chính là một yếu tố cần thiết cho biên giới hôn nhân. Vì
vậy, cho dù xã hội biến đổi thế nào thiết chế thân tộc vẫn tổn tại để thực hiện chức
năng đó và những nhu cầu khác. Để đảm bảo cho sự duy trì nòi giống, luật tục của hôn nhân Việt Nam, ngoại hôn là chuẩn mực bắt buộc. Trong những người có quan hệ thân tộc thì quan niệm truyền thống cho phép “cháu bá cháu dì, dù gì lấy nhau”.
Cách quan niệm như thế biểu hiện tư duy rất khoa học của ông cha ta về hôn phối.
— Trong hôn nhân và gia đình, ý-nghĩa và quyền lực của hôn nhân là những vấn đề hệ trọng nhất. Tuỳ theo mức độ coi trọng của hôn nhân mà có những hình thức tổ chức gia đình, quan hệ nội gia đình nông thôn. Ý nghĩa của một cuộc hôn nhân tuỳ thuộc vào hệ giá trị, chuẩn mực được phản ánh trong các thiết chế xã hội khác như tôn giáo, pháp luật, văn hoá,...
Rõ ràng là, trong xã hội nông thôn (truyền thống cũng như hiện đại) tồn tại nhiều tiêu chuẩn cho các cuộc hôn nhân, nhưng tựu trung lại, nỗi bật lên ba chuẩn mực hôn nhân mang đậm nét truyền thống:
Thứ nhất, xem hôn nhân như là một sự kiện thiêng liêng trong đời con người, nó được tạo ra bởi thượng để hoặc những quyền lực siêu nhiên.
Thứ hai, hôn nhân được xem là quyền lực. Nguồn gốc của quyển lực không phải là trời đất mà do nhóm dân tộc, cộng đồng đặt ra.
Thứ ba, xem hôn nhân như là sự kiện vì cá nhân. Theo quan niệm này, quyền lực hôn nhân thuộc về cá nhân. Cá nhân là người có trách nhiệm chủ yếu đối với hôn nhân của mình. Hôn nhân truyền thống là do cha mẹ sắp đặt. Đôi bên hai họ sắp đặt lễ lạt ăn hỏi, tổ chức cưới xin không coi trọng ý kiến của đôi nam nữ. Đôi khi trong nông thôn, người ta quan niệm cưới con dâu là để có người làm trong nhà và là để sinh con đẻ cái nhằm nối dõi tông đường. Hình thức và thủ tục hôn nhân truyền thống có những mục tiêu chung chi phối hành vi kết hôn của các đôi nam nữ. Hôn nhân đảm bảo quyền lợi của gia tộc. Vì kết quả của hôn nhân kéo theo việc xác lập quan hệ của hai gia tộc, cho nên trong hôn nhân ở nông thôn truyền thống, việc đầu tiên không phải lựa chọn cá nhân nào, mà phải lựa chọn một gia
đình, một dòng họ bể thế, nhà cửa có tương xứng không, có môn đăng hộ đối
không, tức là xem hai gia đình, hai họ có phù hợp với nhau không.
Thứ tư, đối với cộng đồng huyết tộc, hôn nhân là câng cụ duy nhất và thiêng liêng để duy trì dòng dõi và phát triển nguồn nhân lực. Chính vì thế, khi chọn dâu rễ, một trong những tiêu chí mà những bậc già cả (cha mẹ, ông bà) thường quan tâm là năng lực sinh sản của họ. Tiêu chí quan trọng để kén dâu là “đàn bà thắt đáy lưng ong, vừa khéo nuôi chồng, vừa khéo nuôi con”, hay chọn vợ “lưng chữ cụ, vú chữ tâm”,... Để có được người vợ, người chồng tốt người ta căn cứ vào gia tộc họ hàng: “mua heo chọn nái, lấy gái chọn dòng”, “ăn mày nơi cả thể, làm rễ nơi nhiều con”, “lấy con xem nạ (meẹ)”,... Những điều ước mong này còn được thể hiện trong những tục lệ trải chiếu, trang điểm giường cưới cho đôi trai gái trong đêm tân hôn.
Thứ năm, hôn nhân còn có mục đích làm lợi cho gia đình. Do vậy, người vợ phải đảm đang tháo vát đem lại nguồn lợi vật chất cho gia đình nhà chồng, người chồng phải giỏi giang đem lại danh tiếng cho nhà vợ: “Chồng sang vợ được đi giày, vợ ngoan chồng được tối ngày cậy trông”, hay: “Trai khôn kén vợ chợ đông,
gái khôn kén chồng giữa chốn ba quân”(Ca dao).
Các giá trị, chuân mực xã hội trong hôn nhân nông thôn luôn được xem là quan trọng. Thứ nữa, hôn nhân còn đáp ứng các quyền lợi của làng — xã. Chính vi thế, việc chọn vợ kén chồng luôn được chú trọng để tạo ra sự ôn định của làng — xã.
Điều đó thể hiện qua các quan niệm chọn vợ chọn chồng: “ruộng đầu chợ, vợ giữa
33 oe
làng”, “ruộng giữa đồng, chồng giữa xóm”, “lấy chồng khó giữa làng hơn lấy chồng sang thiên hạ”, “ta vé ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”,... Quan niệm trên còn thể hiện qua tục lệ cỗ bàn ăn uống trong cưới xin. Ở mỗi làng còn có tục “nộp cheo” cho làng. Đây là một hình thức nộp lệ phí cho làng, chỉ khi nộp cheo đám cưới mới được coi là hợp pháp (có nơi nộp gạch để lát đường làng, có nơi đóng tiền,...), “Nuôi lợn thì phải vớt bèo, cưới vợ thì phải nộp cheo cho làng”,
“Ly vợ người heo, không cheo cũng mất”,... Người cùng làng lẫy nhau thì nộp ít (cheo nội), còn người ngoài làng thì cheo rất nặng (cheo ngoại).
Cuối cùng, hôn nhân nhằm thoả mãn nhu cầu riêng tư. Thông thường khi đi đến hôn nhân cần phải xem tuổi của đôi trai gái “hợp” hay “xung”; nếu hợp tuổi thì thuận, còn “xung tuổi” thì hôn nhân không được thực hiện. Trong nông thôn truyền thống, điều này thường được thê hiện trong lễ vấn danh (chạm ngõ hay lễ dạm hỏi).
Trong gia đình, khi hôn nhân diễn ra thì quan hệ nàng dâu mẹ chồng cũng rất được chú ý. Đây là mối quan tâm của những thành viên trong dòng họ. Việc chọn dâu rễ trong gia đình nông thôn rất chú trọng đến khía cạnh này, bởi vì người dân nông thôn không muốn xảy ra những gì để mang tai mang tiếng với thiên hạ.