NONG THON VIET NAM
7.2. CỘNG ĐỒNG HỌ HÀNG Ở NÔNG THÔN
Họ hàng và gia tộc là những nhóm xã hội đặc thù của cộng đồng xóm làng trong xã hội nông thôn Việt Nam. Mỗi dòng họ và gia tộc đều có một vị trí xã hội nhất định trong hệ thống cấu trúc làng xóm. Từ xưa đến nay họ hàng, làng nước tạo ra một mối quan hệ khăng khít giữa các thành viên của làng với cộng đồng xóm thôn nơi họ sinh ra và lớn lên.
Quan niệm của người dân nông thôn thì họ là đại gia đình. Dòng họ trước hết là một thiết chế đặc thù của nhóm xã hội thân tộc, một biến thái của gia đình. Nó là một nhóm xã hội lớn, vượt lên trên gia đình và biểu thị mối liên hệ huyết thống
chặt chẽ của chế độ thân tộc.
Họ hàng — một đặc trưng nỗi trội của xã hội Á Đông. Trong họ hàng, vị trí và vai trò các thành viên của các gia đình trong dòng họ đều được sắp đặt theo chế độ truyền thống — chế độ gia trưởng. Mỗi dòng họ đều có những quy định riêng, một nhà thờ họ riêng,... Trong họ, các thành viên có thể xả thân vì danh dự, vì vị thế của cộng đồng huyết tộc. Trong cộng đồng làng — xã, sức mạnh dòng họ được thê hiện thành sức mạnh ảnh hưởng, thành quyển lực trong làng và qua đó nó quyết định vị trí xã hội của các thành viên, các hộ gia đình của nhóm thân tộc này trong cộng đồng xóm thôn và làng — xã.
Giữa gia đình và đòng họ ở nông thôn có mối quan hệ chẳng chịt. Đó là quan hệ giữa các thành viên trong họ. Cộng đồng dòng họ gắn bó chặt chẽ bởi vì nó hình thành trên quan hệ máu mủ, ruột rà — quan hệ huyết thống. Các thành viên có quan hệ ngang và quan hệ trên dưới. Cơ sở của các mối quan hệ đó là giá trị, chuẩn mực xã hội trong dòng họ.
Hệ thống các quan hệ họ hàng được phân chia thành hai tuyến: quan hệ nội tộc và quan hệ ngoại tộc. Mỗi thành viên của cộng đồng đều chịu sự chi phối chẳng chịt và không kém phần chặt chẽ của quan hệ họ hàng. Mỗi phận vị trong họ hàng đều phải thực hiện những trọng trách của mình trước tông tộc. Trong quan hệ gia đình họ tộc, mỗi người đều thắm nhuần vai trò xã hội mà mình phải gánh vác trước cộng đồng dòng họ. Các thành viên của họ hàng đều ứng xử theo những khuôn mẫu định sẵn và không thể làm khác đi được. Quan hệ máu thịt: “Giọt máu đào hơn ao nước lã” trở thành một quy luật xã hội chỉ phối những người liên quan với nhau về huyết giới.
Hệ thống các chuẩn mực của dòng họ được ghi thành zông pháp. Đó là những
quy định, đòi hỏi được một dòng họ thảo ra để xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của các bậc cha mẹ với con cái, ông bà với cháu chất, anh với em, chỉ trên với chỉ dưới; nghĩa vụ thờ cúng tổ tiên, nghĩa vụ đóng góp cho họ; trách nhiệm đùm bọc tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên của cộng đồng dòng họ.
Tông pháp là một thứ luật của một dòng họ. So với thiết chế gia đình, thiết chế họ hàng có phần lỏng lẻo hơn. Nếu trong gia đình, tính thiết chế được thể chế hoá trên cơ sở “tình, lễ, nghĩa”, “trên bảo dưới nghe”, “trong ấm ngoài êm”, “đức hiền
tại mẫu”,..., lấy “hiếu, đễ” làm giá trị nền tảng của gia đình và “nhân, lễ, nghĩa, trí,
tín” là những giá trị chi phối những ứng xử trong nội gia đình thì các giá trị này cũng chỉ phối các thành viên trong họ nhằm tạo ra “hoà thuận”, ban thân các giá trị này làm nên tảng, cơ sở và định hướng cho ứng xử. Ở thiết chế họ hàng, ngoài việc lấy hoà khí, hoà hợp trong họ làm gốc (Đức). Các thành viên con trai, con gái “có nghĩa vụ” tham gia các hoạt động chung của họ. Hơn thế, sự ràng buộc về máu mủ so với quan hệ của gia đình cũng đã giảm nhẹ, ít bị ràng buộc về mặt tình cảm, chỉ nặng về “lễ” và “nghĩa” trong ứng xử. Trong họ chỉ có khuyên bảo chứ không thể áp dụng hình phạt, chỉ tổ chức họp họ, tổ chức tiến hành nghỉ lễ, chứ không có quyền uy như trong gia đình gia trưởng.
Đôi khi tông pháp của một dòng họ tạo ra một kiểu luật riêng. Nhiều khi pháp luật nhà nước đứng ngoài, không thể nào can thiệp được vào trong các quan hệ của cộng đồng dòng họ. Thường những quy định của luật lệ làng (dưới hình thức thành văn hay không thành văn) thường tác động, ảnh hưởng đến Tông pháp.
Tông pháp của mỗi họ làm cho họ này khác với họ khác. Bản thân tông pháp cũng tạo ra một trật tự xã hội - trật tự trong họ và nỏ tác động đến các thành viên của mỗi họ tuân thủ luật làng. Tuy vậy, mối quan hệ của các thành viên với họ hàng quy định trong tông pháp thường lỏng léo hơn trong gia đình, các quan hệ ấy mang tính xã hội và mang đậm tính hình thức hơn.
Thờ cúng tổ tiên của dòng họ đang trở thành một vấn đề nổi cộm trong làng — xã hiện đại. Tư tưởng tìm “họ mình, nhà mình”, “đâu là con cháu mình” đang chỉ
có tổ, con người có tông” là một giá trị xã hội chỉ phối mạnh ứng xử của các thành viên trong họ, cũng như ngoài làng. Quan hệ ứng xử giữa người với người trong một họ khác với quan hệ ứng xử với những người dưng (ngoài họ) và đó là chỗ dựa tinh thần của mỗi cá nhân trong đời sống, hoạt động của mình.
Việc thờ cúng tổ tiên thường được tổ chức trong những ngày giỗ tô. Việc thờ
cúng được thực hiện tại từ đường đối với những họ có truyền thống lâu đời, có
người được họ giao cho việc hương hoả trong những ngày sóc vọng. Còn những hình thức thờ cúng đơn giản hơn được tiến hành ở nhà trưởng họ hay tiên chỉ họ.
Vị thế của các họ trong làng được tạo ra từ những yếu tố khác nhau, ví dụ như họ to, họ nhỏ (có số thành viên nhiều hay ít), sự thành đạt của các thành viên trong họ, uy tín về nghề nghiệp, học vấn, sự trật tự trên dưới trong ứng xử của các thành - viên trong họ theo khuôn mẫu “trên ra trên, dưới ra dưới”,...
Vị thế của các họ khác nhau dễ làm nảy sinh những bất đồng trong các dòng họ và dễ dẫn đến sự xung đột về quyền lực trong làng. Đây là một vẫn đề nỗi cộm trong cộng đồng nông thôn hiện nay. Các tư tưởng “góc chiếu giữa đình”, “một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”, vị thế của họ lớn, họ nhỏ,... dễ gây ra và làm tăng những hiểm khích, xung đột cạnh tranh giữa các dòng họ trong cộng đồng làng — xã ở nông thôn.
Vai trò của dòng họ. Dòng họ giúp cho cá nhân trong làng không cảm thấy bị bơ vơ, lạc lõng ở trên đời. Người trong một họ thường có chung một niềm tự hào, niềm vinh dự về dòng họ. Họ tự hào vẻ truyền thống dòng họ của mình như to lớn, lâu đời trong làng, có nhiều người đỗ đạt cao trong thi cử, thăng tiến trên con đường công danh, có nhiều người giữ những địa vị, chức sắc trong làng, trong huyện, tỉnh,...
Làm mắt thanh danh của dòng họ không chỉ có lỗi với người đang sống mà còn có lỗi với tô tiên. Xúc phạm đến danh dự của dòng họ là điều tối ky trong làng — xã ở nông thôn. Đôi khi từ những thất thố nho nhỏ mà dẫn đến hiềm khích giữa các họ trong làng.
Dòng họ can thiệp vào hôn nhân của các thành viên trong cộng đồng này. Hôn nhân cũng không phải là việc riêng của đôi trai gái kết duyên mà đó là sự kết giao của cả hai dòng họ, là người của dòng họ này gia nhập vào dòng họ khác. Trước
khi kết hôn, người ta tìm hiểu cặn kẽ về nguồn gốc của các thành viên sắp tới của dòng họ, điều đó được tổng kết thành quan niệm cổ truyền “lẫy vợ xem tông, lấy chồng xem giống”. Đôi khi trong cộng đồng cũng tính đến việc hai họ phải “môn
đăng hộ đối”. Sau khi cưới phải thăm hỏi họ hàng để nhận họ hai bên, để biết phận
vị của mình trong dòng họ. Mỗi người đều cảm thấy sức ép của đông đảo những thành viên của cả nhóm thân tộc.
Sự cố kết dòng họ trong cộng đồng làng xóm tạo ra những hệ quả xã hội nhất định. Một mặt, nó củng cố tinh thần tương thân tương ái, trợ giúp nhau trong hoạn nạn,... Trong quá trình đó các thành viên trong họ thường tổ chức họp họ và tiến hành ăn uống, tổ chức giỗ họ,... Do đó nảy sinh những tập tục ăn uống linh đình, kết quả là các thành viên, các hộ gia đình thuộc dòng họ phải đóng góp tốn kém.
Mặt khác, sự cố kết dòng họ, huyết thống, gia tộc cũng làm nảy sinh tính chất hẹp hòi, cục bộ trong ứng xử với những thành viên khác trong làng.
Quan niệm “giọt máu đào hơn ao nước lã” làm cho phương châm xử thế những thành viên trong họ với nhau (nội bộ trong họ) khác với người khác họ (người dưng) trong làng — xã. Hơn thé, dòng họ đôi khí làm cho quan hệ xã hội trong làng, nước trở nên cực đoan, nhất là khi quan hệ dòng họ can thiệp vào quan hệ chính trị và quan hệ pháp luật. Quan niệm “một người làm quan cả họ được nhờ” hay “thấy người sang bắt quang lam ho”,... chi phối lối ứng xử, xử sự, đối đãi của các cá nhân nông thôn.
Trong những làng có nhiều dòng họ dễ xảy ra những đồ ky, ghen ghét, xung đột giữa những dòng họ. Khi các thành viên trong dòng họ chiếm được địa vị cao trong lang thi dé tao ra lợi thế cho dòng họ. Chính vì thế, xung đột các dòng họ là một trong những xung đột cơ bản trong làng — xã.
Thông thường trong một làng có nhiều họ, đôi khi cả làng chung một họ. Vấn dé vai vé (vị trí) của các họ trong làng phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như số lượng các vị trí mà họ có được trong làng, trình độ học vấn, của cải, nhà thờ họ, mỗ má tổ tiên có được xây dựng to đẹp hay không, kỷ cương của tông pháp, đạo đức của con cháu, vấn đề học hành, thi cử,... của dòng họ cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến vị trí của dòng họ trong làng.
Dòng họ có vai trò trong sự bảo tổn, gìn giữ, phát triển và chuyển giao văn hoá từ thế hệ này sang thế hệ khác, qua đó dòng họ góp phần gìn giữ và phát triển văn
hoá dân tộc. Củng cố lại họ tộc là cần thiết, nhưng không thể không tính đến mặt
trái của sự cố kết dòng họ này.
Trong thực tiễn của đất nước hiện nay, vấn đề vai trò văn hoá dòng họ trên cả hai phương diện ý thức và hành động cần được chú trọng bảo tổn, phát huy những mặt tốt đẹp, hạn chế những mặt tiêu cực do dòng họ gây ra.
Họ hàng là một loại nhóm xã hội không chính thức của những người cùng huyết
thống. Quan hệ họ hàng hoàn toàn nằm ngoài phạm vi kinh tế. Nó lấy luân lý, tình
cảm huyết thống làm cơ sở cho các quan hệ họ hàng của mình. Thờ cúng tổ tiên là hình thức sinh hoạt của dòng họ để nhớ về tông tộc, cội nguồn của mình. Họ hàng đóng một vai trò lớn trong việc giáo dục con cháu và giúp đỡ nhau về vật chất lẫn tinh thần trong hoạt động sống.
Trên dòng họ là cộng đồng làng — xã. Trong nông thôn Việt Nam, truyền thống dòng họ phụ thuộc vào làng rất nhiều. Mỗi làng có một hoặc vài họ, mỗi họ lại có vị trí và vai trò xã hội khác nhau, có họ to, họ nhỏ, họ sang, họ hèn,... và họ hàng
trở thành thành tổ của làng — xã nói riêng và cũng là thành tố của xã hội nông thôn
nói chung. -