Trong xã hội Việt Nam truyền thống tồn tại nhiều làng nghề khác nhau ở nông thôn. Trong số đó có những làng thủ công như đan lát, thêu thùa, đồ gốm sứ,... và có cả những làng thương nghiệp (làng buôn) [Nguyễn Quang Ngọc, 1993].
Làng nghề Việt Nam mang tính tập tục truyền thống, đặc sắc, có tính kinh tế bền vững, mang đến nhu cầu việc làm tại chỗ và những lợi ích thiết thực cho các cộng đồng cư dân nhỏ lẻ trên mọi miền đất nước (chủ yếu ở các vùng ngoại vi thành phố và nông thôn Việt Nam), đồng thời góp phần vào sự nghiệp phát triển
chung của toàn xã hội. Các làng nghề thủ công, làng nghẻ truyền thống, hay làng nghề cổ truyền,... có mặt khắp nơi trên đất nước Việt Nam và thường được gọi chung là làng nghề.
Bí quyết nghề nghiệp — đó là sự đảm bảo cho sự tồn tại của một nghề truyền
thống trong làng — xã và đảm bảo cho sự phổn vinh của làng nghề. Cùng với sự hưng thịnh của nghề tranh hay của nhiều nghề thủ công khác (ví dụ nghề gốm Bát Tràng,...). Truyền nghề là một phương thức đào tạo trong các làng nông thôn truyền thống. Đây là điều kiện đảm bảo cho sự trường tồn và tính độc đáo của các nghề thủ công ở nông thôn. Yếu tố này hiện vẫn còn lưu dấu ấn trong nông thôn hién đại. Sự phát triển nghề của các làng làm cho nông thôn Việt Nam trong truyền thống tạo nên các làng nghề.
Trong thời kỳ bao cấp ở các làng nghề hình thành các hợp tác xã nghé.
Sự phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường từ trong Đổi mới đã làm cho các hợp tác thủ công tiêu vong, thay vào đó là sự hình thành các liên hiệp hợp tác mới trong hoạt động nghề nghiệp theo mô hình mới: các công ty, tổ hợp nghề, tổ hợp tác làm nghề.
Trong Đổi mới, các nghề mới được phát triển, tìm hướng đi cho mình. Làng nghề tạo ra các sản phẩm hàng hoá đặc thù trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về chuyên đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, cả nước đã đây mạnh khôi phục các nghề, làng nghề truyền thống: phát triển nghề, làng nghề mới. Tuy nhiên, hiện nay, tốc độ phát triển ngành nghề tương đối cao nhưng chủ yếu là loại hình kinh tế hộ chiếm tới 97% với quy mô nhỏ, sức cạnh tranh yếu, hạn chế khả năng phát triển theo hướng công nghiệp hoá.
Mục tiêu phát triển ngành nghề nông thôn trong những năm Đổi mới là tạo sự chuyên dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng GDP của công nghiệp — tiểu thủ công nghiệp — dịch vụ. Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/ 2000 của Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, cụm công nghiệp làng nghề rất phát triển ở các địa phương có
° nhiều làng nghề. Tuy có những cách hiểu khác nhau về cụm công nghiệp làng nghề
nhưng có thé quan niệm, cụm công nghiệp làng nghề là một địa điểm phân bố sản xuất của các doanh nghiệp vừa, nhỏ và các hộ kinh tế gia đình, kinh doanh công nghiệp và dịch vụ nhằm khắc phục ô nhiễm môi trường, tạo ra cơ sở hạ tầng tốt hơn và tạo điều kiện tốt hơn cho sản xuất kinh doanh. Ở nông thôn khoảng 1.000 làng nghề truyền thống hiện đã được khôi phục và phát triển. Việt Nam hiện có hơn 2.000 làng nghề với khoảng 11 triệu lao động, trong đó có 15% làng nghề truyền thống, sản xuất đa dạng nhiều sản phẩm khác nhau, tập trung nhiều nhất ở vùng đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long và Tây Bắc. Trong tổng quan về chiến lược phát triển làng nghề nông thôn Việt Nam nhắn mạnh: Nhìn chung ngành nghề
nông thôn, làng nghề nước ta chỉ phát triển ở quy mô nhỏ, trén 80% các cơ sở sản xuất không đủ vốn để đổi mới kỹ thuật, mở rộng quy mô sản xuất nên chưa tiếp cận được với thị trường xuất khẩu.
11) Chợ làng, chợ quê
Trong mỗi làng (đôi khi là mỗi vùng, gồm một vài làng) đều có một “chợ” để trao đổi hàng hoá hoặc của làng, hoặc của vài ba làng. Đây chính là yếu tố của kinh tế hàng hoá thị trường chưa phát triển, nó còn ở dạng sơ khai. Bởi vì những trao đổi trong xã hội truyền thống được thay đổi qua những thời đại khác nhau, từ trao đỗi trực tiếp, đến trao đổi mang tính cách hàng hoá khi xuất hiện đồng tiền.
Sự hiện điện của chợ đã làm cho làng trở thành một đơn vị mang tính tông thể —
có cả hoạt động công — nông — thương nghiệp. Nó làm cho làng trở thành một đơn
vị kinh tế — xã hội mang tính khép kín. Mỗi làng đều có thể tự cấp tự túc mà không
giao lưu trao đổi rộng với bên ngoài. Tính độc lập của nó khuôn gói con người của làng theo cách xã hội hoá của nó.
Chợ làng thường họp theo một giờ nhất định để người trong làng trao đổi vật phẩm cần thiết trong sinh hoạt với nhau. Đó là đặc trưng thương nghiệp truyền thống của làng Việt Nam.
Trong những vùng nông thôn miền cao, chợ không chỉ là nơi tổ chức hoạt động trao đổi kinh tế mà nó còn là nơi sinh hoạt văn hoá nữa. Trong các dân tộc thiểu SỐ, xuống chợ là để kết bạn, để hẹn hò gặp gỡ bạn bè, là để trao duyên của những đôi trai gái tìm đến nhau tâm tình. Chính vì vậy, chợ có vai trò tạo môi trường giao tiếp xã hội. Trong xã hội cỗ truyền, đây là yếu tố động của nông thôn. Các quan hệ
xã hội vốn được hình thành qua mạng lưới các chợ này. Chợ Tết được xem là một
sinh hoạt văn hoá của người dân nông thôn Việt Nam. Trong những ngày này, ngoài việc mua sắm đồ Tết, người ta đi chợ chơi. Một hình thức giải trí đặc thù của nông thôn Việt Nam.
Hiện nay, ở vung trung du, vùng cao, một vài thôn bản có một chợ vùng, họp theo phiên. Chợ phiên là một kiểu hoạt động thương nghiệp trong nông thôn. Đó là kiểu họp chợ để trao đổi buôn bán theo định kỳ trong tháng ở nông thôn. Họp chợ phiên thường của vài ba làng, của một xã, một vùng và nó trở thành nếp hoạt động truyền thống ở nông thôn Việt Nam tự xa xưa. Hiện nay các chợ vẫn đang tồn tại ở làng quê.
Ở vùng cao, các phiên chợ không chỉ là nơi trao đổi kinh tế mà còn là nơi người quen thân gặp nhau trao đổi tình cảm, hoạt động văn hoá — văn nghệ nữa. Trong
các phiên chợ vùng cao là nơi phố biến khoa học kỹ thuật cho bà con dân tộc thiểu
số, phd biến, tuyên truyền các đường lối, chính sách của Đảng.
12) Cư tru theo ngõ xóm trong làng
Các nhóm bán chính thức trong làng vừa mang tính chất công việc, vừa mang tính chất xóm giềng. Mỗi làng chia thành nhiều xóm, thôn. Trong mỗi xóm thôn lại có thể có nhiều ngõ. Ngõ và xóm được hình thành trên cơ sở quan hệ hàng xóm láng giềng.
Khác với làng, ngõ xóm không có ruộng riêng và không có quyền cấp đất cho các thành viên của mình và cũng không có tư cách pháp nhân quản lý các thành viên. Về mặt nào đó, xóm ngõ chỉ mang tính chất quan hệ địa vực. Trên cơ sở quan hệ láng giềng cư trú, ngõ xóm ở nông thôn có tình thâm giao trong quan hệ ứng xử với nhau.
Trong công cuộc xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn, ngõ xóm tạo ra kiểu tổ chức không chính thức trong làng — xã: mô hình liên gia tự quản, một kiểu tự quản trong ngõ xóm hiện nay.
13) Các thể chế dân sự trong làng — xã
Làng vừa là một cộng đồng, một nhóm xã hội thứ cấp, vừa là một tiểu hệ thống xã hội phức tạp. Nó chứa trong lòng nó những nhóm xã hội nhỏ khác nhau: nhóm chính thức (gia đình) và nhóm không chính thức (họ hàng, phe, phường hội,...).
Thể chế dân sự là khái niệm chỉ một nhóm xã hội được hình thành trên mục đích chung của các thành viên trong nhóm, trong đó có những quy định chung do các thành viên thoả thuận, phân công trách nhiệm, tạo thành một hệ thống xã hội mang tính tổ chức.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương X (1989) đã làm cho nông thôn Việt Nam chuyên mình, đổi mới thực sự. Và cung cách quản lý xã hội ở cộng đồng xã hội nông thôn cũng đổi thay. Cùng với truyền thống tự quản, làng - xã tái lập dưới hình thức mới với sự ra đời của vị trí trưởng thôn, các phường hội tái lập. Những nét mới trong làng — xã là:
+ Các phường hội hoạt động kinh tế theo mô hình truyền thống được phục hồi cùng với sự phục hồi và phát triển của ngành nghề thủ công, buôn bán, kinh doanh.
+ Các phường hội (sở nguyện) được thành lập với những mục đích trợ giúp nhau trong sinh hoạt.
+ Có thể nói, sự đa dạng hoá các phường hội đã làm cho đời sống xã hội nông thôn trở nên sôi động hơn. Một cách thức tự quản mới trong cộng đồng
dân sự ra đời. :
Phường thường là tổ chức của những người hoạt động kinh tế (làm nghề, phường thợ, phường buôn, phường thóc, phường tiền,...). Đứng đầu là trưởng
phường. Phường có phường lệ —- những quy định để trợ giúp nhau, tránh cạnh tranh, hỗ trợ nhau trong làm ăn, vốn liếng, kỹ thuật, công:sức,... Các phường thường phổ biến trong các làng nghề.
Hội là cách thức tổ chức của những người có cùng sở nguyện. Những hội được lập ra nhằm thoả mãn nhu cầu của các thành viên, chia sẻ với nhau những tâm tư, nguyện vọng, những nhu cầu, trợ giúp chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Có nhiều dạng thức của hội như hội đồng hương, hội cùng nhập ngũ, hội đồng niên, hội
đồng học, hội mục đồng (chăn trâu), hội cờ, hội vật, hội phụ nữ giúp nhau thoát
nghèo, hội thé duc thé thao, hội thương tật, hội đồng cảnh,.. . Trong thôn, làng, ấp, bản,... đều hàm chứa các phường hội trong nó.
14) làng là một đơn vị xã hội, nơi triển khai các chính sách của nhà nước vào thực tiễn
Trong xã hội truyền thống, làng là một don vi làm nghia vụ với nha nước, làng là nơi thực hiện những chính sách mà nhà nước giao xuống, là người giao dịch với nhà nước thay cho các thành viên của mình. Khi làm tròn bổn phận với nhà nước, làng tổ chức hoạt động của làng theo cách riêng của mình. Chính vì vậy, làng có tính cộng đồng cao và qua đó nó có tính độc lập trong điều hành các hoạt động của những thành viên của làng. Những quy ước trong hương ước cùng với tính độc lập của làng làm cho làng — xã trở thành một cộng đồng tự quản. Khi thực hiện chức năng hành chính, làng biểu hiện là thành viên, một bộ phận của nhà nước, của một xã hội rộng lớn hơn. Về điểm này làng thể hiện ra đặc trưng của
nó làng — nước [Trần Đình Hượu, 1994]. Nghĩa vụ đối với nhà nước được thể hiện ra thành sưu (thuế đỉnh), thuế điền. Làng cắt cử để đảm bảo nghĩa vụ binh
dịch cho nhà nước. Những người đã và đang làm nghĩa vụ binh nghiệp của nhà nước tập hợp thành dân binh (hay xã binh) trong làng. Làng nghiêm trị những người trốn đi lính hay đào ngũ. Việc thực hiện các nghĩa vụ này thường được làng giao cho các giáp thực hiện.
Trong xã hội hiện đại, làng là đơn vị xã hội, là nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước. Lăng là nơi tổ chức, thực hiện trực tiếp các chương trình phát triển kinh tế — văn hoá — xã hội được triển khai trên địa bàn nông thôn như công cuộc xóa đói giảm nghèo; xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, thực hiện công cuộc dân chủ hoá đời sống xã hội, triển khai thực hiện bình đẳng giới, đưa trẻ đến trường, thực hiện kế hoạch sản xuất, triển khai hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, xây dựng thuỷ lợi, cứng hoá kênh mương.... Có thể nói, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội được triển
khai và thực hiện trực tiếp tại cộng đồng. Thôn, làng, ấp, bản,... một đơn vị xã hội
cơ sở của nông thôn, nơi chính sách đi vào cuộc sống.
15) Lang ổn định lâu đài cùng với sự hình thành và phát triển của cộng đồng xã hội. Có những làng trường tổn trong lich sử hàng ngàn năm. Trong công cuộc mở mang bờ cối trong lịch sử cho thấy: Đôi khi mô hình của làng được những thành viên đi lập nghiệp ở nơi khác mang theo. Họ lại tổ chức làng mới như làng nơi họ ra đi. Làng là nơi tổ chức bám trụ ở đất cũ, củng cố đất mới.
16) Làng có từ xa xưa nhưng bản thân quân cư này cũng qua nhiều đợt cải tổ.
Đã có một thời ngôi chùa là nơi tổ chức lễ hội văn hoá, là trung tâm của làng,... Làng trở thành đơn vị hành chính vào thời kỳ nhà Trần, trong mỗi làng
đều đặt ra tiểu tư xã, đại tư xã, lập đình làng,... Làng trở thành đơn vị hành
chính từ đó. Các dấu ấn đó còn lưu lại trong các cung cách sinh hoạt, lễ - hội của các làng truyền thống.
Cách mạng tháng Tám thành công, nền dân chủ cộng hoà được thiết lập, chức năng của làng thay đổi. Nhà nước thực hiện quản lý xã hội, làng trở thành đơn vị kinh tế — văn hoá — xã hội, chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp chuyên trả cho chính quyền nhà nước. Làng chịu sự quản lý của nhà nước với tư cách là một đơn vị xã hội dân sự.
17) Làng có một nền văn hoá riêng và tạo thành văn hoá làng — xã. Đặc trưng là văn hoá dân gian truyền thống. Mỗi làng đều có những tổ chức hoạt động văn hoá
như tổ chức việc học hành, xây dựng đình chùa, tổ chức hội hè, đình đám....
Trong hoạt động sản xuất, mỗi làng đều có lịch trình sản xuất cho phù hợp với
điều kiện tự nhiên của làng mình. Có một nền nếp sinh hoạt, có những lễ hội đặc
trưng riêng cho làng. Mỗi làng đều có cung cách ứng xử, xưng hô trong giao tiếp — một nếp sống của làng. Làng có phong tục, tập quán riêng,... làm cho các làng khẳng định sự hiện diện của nó trong hệ thống xã hội nông thôn.