BIEN DOI CO CAU XA HOI CUA LANG VIET NAM TU TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI

Một phần của tài liệu Giáo trình cơ sở xã hội học nông thôn việt nam (Trang 184 - 188)

8.5.1. So sánh cơ cấu làng Việt Nam qua các thời kỳ từ xã hội

truyền thống đến nay

Cơ cấu xã hội là tổng thể các mỗi quan hệ và mối liên hệ xã hội tương đối bền vững. Nó là khái niệm chỉ cách thức tổ chức của một xã hội và cho thấy tính tổ chức của nó trong một giai đoạn nhất định của lịch sử. Cơ cấu xã hội còn là toàn thé các mối liên hệ tương đối ổn định giữa các yếu tố trong một hệ thống xã hội.

Khái niệm này cho phép xem xét cơ cấu xã hội của làng — “đơn vị xã hội cơ bản” của xã hội nông thôn nghiên cứu cách thức tổ chức quan hệ và hoạt động của làng — xã trong xã hội nông thôn Việt Nam. Việc nghiên cứu này có tằm quan trọng ở chỗ, chính cơ cấu xã hội căn bản của nông thôn đều được định hình qua cơ cấu của làng — xã nông thôn Việt nam. Cho nên muốn tìm hiểu cấu trúc xã hội của nông thôn Việt Nam ngày nay không thể không xem xét cách thức tổ chức của làng Việt Nam qua các thời đại. Để xem xét sự biến đổi cơ cầu xã hội trong lang ~ xã, có thể chia theo ba thời kỳ đặc trưng có những biến động lớn trong làng — xã nông thôn.

Xã hội hiện đại

Xã hội truyền thống Thời kỳ bao cấp _ Đổi mới Cá Cá nhân là thành viên của làng, | Cá nhân là công dân | Cá nhân là công dân, là nhân phụ thuộc vào làng. vừa là thành viên của | thành viên của làng, sự Vai trò được xác định theo độ tuổi | làng, thành viên của | lệ thuộc vào làng đã suy

(ty ấu, đính, lão). hợp tác xã (HTX). giảm.

Phân biệt dân chính cư (gốc) và | Vai trò theo độ tuổi lao | Vai trò theo độ tuổi lao ngụ cư. Dân gốc được coi trọng, | động, hoạt động đoàn | động, hoạt động đoàn được làng ưu ái hơn dân ngụ cư. | thể. thé.

Cư trú theo luật pháp, | Ranh giới phân biệt song quan niệm chính | chính cư và ngụ cư cư và ngụ cư tôn tại. vẫn tồn tại, không còn ý nghĩa chỉ phối nhiều đến cư ngụ.

Nơiở Cư trú theo ngõ/xóm; càng ở sâu | Nơi cư trú vẫn theo | Quan niệm cư trú theo

trong làng càng yên ổn. quan niệm truyền thống. | mặt đường, nơi có cơ hội trao đổi, giao lưu kinh té.

Xã hội truyền thống

Xã hội hiện đại

Thời kỳ bao cấp Đỗi mới

Biễn đôi | + Hộ gia đình phụ thuộc vào làng, | + Hộ gia đình xã viên | Đa dang hoá loại hộ hộ gia là đơn vị kinh tế cá thể, tiểu nông. | HTX. gia đình:

đình + Có các loại gia đình khác nhau | + Hộ kinh tế cá thể | + Gia đình thuần nông

(nhà nông là căn bản, nhà quan, | ngoài hợp tác xã. nghiệp.

nhà nho, nhà thợ thủ công, nhà | + Hộ gia đình cán bộ, | + Gia đình hỗn hợp buôn). công nhân viên nhà | nông —phi nông.

nước. + Gia đình phi nông

nghiệp (làm nghề, kinh doanh, buôn bán, dịch vụ, gia đình cán bộ viên chức nhà nước).

Biến đổi | Có các quan viên của làng. Ban quản trị HTX và | Trưởng thôn,

quản lý | Các Hội đồng làng: Hội đồng kỳ | các Tổ, Đội sản xuất. | Ban quản lý thôn,

làng ~ mục, lý dịch. Lãnh đạo các đoàn thể | Công an thôn,

xe chính trị — xã hội, Các cộng tác viên,

Y tá thôn bản.

Lãnh đạo các đoàn thể

chính trị — xã hội.

Biến đôi | Ty ấu: Dưới 18 tuổi, Cơ cấu theo độ tui lao | Cơ cấu theo tuổi lao

quan | Định: từ 18-49 tuổi, động gồm: độ tuổi ăn | động,

nem VE | Lao: từ 50 tuổi trở lên, theo, tuổi lao động, hết | Người cao tuổi vào

cơ câu tuổi lao động (lao động | Chi hội người cao tuổi,

độ tuôi: phụ). Cơ cấu sau lao

động gồm có Hội phụ

lão, Hội các bà (trong chiến tranh có Hội mẹ

| chiến sĩ). ———

Có Hội các cụ theo giới.

xóm đôi cơ cầu địa vực Thay — ngõ Cư trú của dân làng theo ngõ xóm, mỗi ngõ xóm thường có

anh em họ hàng thân thiết.

Quan niệm cư trú ở sâu trong ngõ, trong làng càng yên én, co cơ hội giao tiếp nhiều. “Ruộng đầu chợ, vợ giữa làng” nói lên điều ứng xử dễ va chạm làm

cho con người nhanh nhẹn,

tháo vát. Cư trú truyền thống. như xã hội Tồn tại cư trú theo cộng đồng truyền thống. Nơi giãn dân mới, làng mới trọng việc chọn cư trú theo lộ giới Hình tượng lũy tre làng bị mai một dan.

Giá trị về nơi ở "cận giang, cận lộ, cận thị”

lên ngôi.

Xã hội truyền thống

Xã hội hiện đại

Thời kỳ bao cấp Đổi mới

Hiện Chỉ có phe phái trong làng, không | Có hệ thống “dân- | Hệ thống chính trị diện có giai cấp xã hội. Dân làng chủ | chính-đảng". Đảng | trong làng — xã được và củng | yếu là nông dân. lãnh đạo, đoàn thể | củng cố và phát triển.

có cơ chính trị - xã hội tổ | Chi hội Người cao

cau chức thực hiện. tuổi.

chính trị Hội các cụ (lão ông),

- xã hội Hội các cụ bà.

Cơ cấu Tuyệt đại dân làng là nông dân, | Chủ yếu là nông dan, | Da dạng hoá ngành nghệ canh nông là chính. Nghề nông | vào HTX, là xã viên | nghề trong làng — xã, nghiệp | là căn bản ('Dĩ nông vi bản"), | HTX nông nghiệp. Phục hồi nghề truyền

còn người làm nghề khác coi là làm “nghề phụ”.

Những người làm nghề

vào HTX nghề (HTX

thống của những hộ gia đình.

xây dựng, HIX dệt | Mở, phát triển nghề HTX cơ khí, HTX | mới,

thương nghiệp, mưa | phát triển dịch vụ.

bán,...) Chuyển một bộ phận St ha

dân cư sang làm nghề, dịch vụ xã hội.

Khôi phục và phát triển làng nghề, xuất hiện làng nghề mới.

Bảng 8.5: So sánh sự biến đồi cơ cấu xã hội giữa xã hội truyền thống và xã hội

hiện đại

8.5.2. Vài nét chung về cơ cấu xã hội làng hiện đại

Trước hết, cần phải thấy rằng, trong làng - xã Việt Nam (xưa cũng như nay)

luôn tồn tại những vị trí xã hội dành cho các cá nhân, các nhóm xã hội đặc thù của làng - xã. Mỗi dòng họ, mỗi gia đình, mỗi cá nhân đều có một vị trí xã hội nhất định trong làng.

Chính vì làng như một cộng đồng tự quản mang những nét độc lập trong sự tồn tai của nó nên trong mỗi làng đều có một cơ cầu tự quản, như có một Ban quản lý thôn (làng), trong đó có một vị trí xã hội quan trọng, đứng đầu bộ máy quản lý xóm thôn — trưởng thôn. Trưởng thôn là người lãnh đạo thôn được các thành viên cử ra để điều hành hoạt động của thôn phù hợp với yêu cầu của chính quyền nhà nước và phù hợp với những mục tiêu mà cộng đồng làng đã đề ra.

Theo quy chế mới, trưởng thôn là người có vai trò xã hội không chỉ chịu trách nhiệm với cộng đồng xóm thôn mà có trách nhiệm đảm bảo tổ chức thực hiện những chủ trương của Đảng và Chính phủ trong địa phương mình. |

Trưởng thôn là nhân vật xã hội trung gian giữa Nhà nước với xóm thôn. Trưởng thôn được hưởng phụ cấp trách nhiệm do Nhà nước đài thọ. Trưởng thôn là người thực thi vai trò kép, là người quản lý những hoạt động của cộng đồng làng — xã theo mệnh lệnh, chỉ thị của Nhà nước, mặt khác lại là người đứng đầu bộ may tu quán của làng. Trưởng thôn là người vừa thay mặt Nhà nước đê triển khai các công việc chung theo yêu cầu của xã hội, mặt khác lại là người khởi xướng, giải quyết những công việc chung nảy sinh trong hoạt động sống của cộng đồng. Trưởng thôn là người có trọng trách cao nhất trong làng — xã nhưng trưởng thôn vẫn không nằm trong biên chế Nhà nước. Nhờ vào vị trí này mà Nhà nước có thể can thiệp được vào trong hoạt động của các cộng đồng xã hội tương đối khép kín này.

VỊ trí xã hội của các giới trong làng — xã. Trong làng Việt Nam, do đặc trưng của hoạt động lao động sản xuất nông nghiệp, lao động ngành nghề mà các giới có vị trí xã hội khác nhau. Do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, Phật giáo làm cho vi : trí, vai trò xã hội của các giới ở trong làng truyền thống khá khác biệt nhau. Đặc biệt là trong sinh hoạt của những người cao tuổi. Trong hoạt động tín ngưỡng, sự khác biệt này cũng bộc lộ rõ. Do quá trình thực hiện dân chủ hoá trong làng — xã nên sự phân biệt này hiện nay không còn sâu sắc như trong xã hội truyền thống trước đây.

Vị trí xã hội trong làng còn được thể hiện qua việc phân biệt các tầng lớp xã hội theo tuổi tác. Trong làng — xã Việt Nam, tuổi tác là dấu hiệu quan trọng để xác định mức độ để cộng đồng tôn trọng. Theo quan niệm truyền thống, những người từ 50 trở lên được liệt vào hàng ngũ các cụ. Tuỳ từng làng có mức quy định khác nhau. Nhưng nhìn chung mức tuổi trên được phần lớn các làng tuân thủ. Những ứng xử như vậy là do giá trị xã hội trọng lão, trọng tuổi, trọng xỉ tạo ra. Đây cũng

là các giá trị truyền thông đáng trân trọng. Nhờ vào ảnh hưởng của những giá trị xã

hội này mà tình đoàn kết xóm làng thêm trang trọng và trong ứng xử của người dân nông thôn có nề nếp, trên dưới.

Trong làng — xã Việt Nam còn tổn tại sự khác biệt giữa các nhóm xã hội, các cộng đồng nhỏ trong làng, tạo thành cơ cấu xã hội về các chủ thể-xã hội. Ngay trong một làng, vị trí xã hội, vai trò xã hội của các cộng đồng thân tộc (họ hàng), gia đình cũng có vị thế xã hội khác nhau. Những dòng họ to, nhỏ (số lượng thành

viên nhiều hay ít) đều có ảnh hưởng nhất định. Những dòng họ có nhiều đóng góp

cho làng nước, hay có nhiều thành viên có chức sắc cũng ảnh hưởng nhất định đến việc bàn bạc, thực hiện các công việc chung của cộng đồng.

Trong mỗi làng — xã ở nông thôn đều tồn tại rất nhiều mối quan hệ xã hội, tạo ra các phương diện hoạt động của làng — xã, như:

+ Quan hệ giữa các dòng họ với nhau.

+ Quan hệ giữa làng với từng họ.

+ Quan hé giữa người chính cư và ngụ cư.

+ Quan hệ giữa làng với cá nhân trong làng.

+ Quan hệ giữa làng với các giới.

+ Quan hệ giữa làng với từng hộ gia đình.

+ Quan hệ giữa cá nhân với các nhóm xã hội khác,...

+ Quan hệ xã hội giữa các ngành nghề khác nhau trong thôn (công, nông, thương, tín,...).

Sự chồng chéo, đan xen những quan hệ trong nội bộ làng giữa các thành viên, các bộ phận của làng — xã làm cho làng — xã trở thành một hệ thống xã hội phức tạp, đa dạng, song gắn bó đoàn kết hữu cơ.

Cấu trúc xã hội của làng là bức tranh thu nhỏ của cấu trúc xã hội nông thôn nói chung.

Làng nông thôn chứa trong lòng nó cơ cấu chính trị xã hội — đó là hệ thống tổ chức chính trị xã hội trong làng. Hệ thống ấy tạo thành nên tảng (cơ sở) chân rết

của hệ thống chính trị - xã hội Việt Nam.

Làng Việt Nam — một hình thức độc đáo của hình thức tồn tại xã hội, một đơn vị cơ sở xã hội đặc trưng cho nông thôn Việt Nam. Sự tồn tại của xã hội nông thôn trong hệ thống xã hội nói chung phụ thuộc vào sự hiện diện của làng — xã.

Sự hiện diện của cộng đồng làng, với tư cách là một tổ chức xã hội hữu cơ, có

một nền văn hoá đặc thù độc đáo, tạo ra một thiết chế xã hội chặt chẽ. Nói chung, làng Việt Nam luôn đóng vai trò chủ đạo trong sự vận động biến đổi của xã hội

Việt Nam. Muốn xã hội đổi mới nhanh, thì không thể không tính đến những biến

đổi đặc thù của thiết chế xã hội trong làng — xã.

Phát triển kinh tế — xã hội trong nội bộ làng — xã vừa là mục tiêu hàng đầu vừa là cái đích cuối cùng của chương trình phát triển kinh tế — văn hoá — xã hội. Nội dung xây dựng nông thôn mới cũng chính là sự cải tạo, sự thay đổi về chất những hoạt động sống của các làng — xã nông thôn Việt Nam.

Một phần của tài liệu Giáo trình cơ sở xã hội học nông thôn việt nam (Trang 184 - 188)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(267 trang)