Cũng như xã hội nói chung, trong xã hội nông thôn hiện nay có những thiết chế cơ bản như: 1) Kinh tế ; 2) Tôn giáo; 3) Văn hoá; 4) Y tế ; 5) Giáo dục; 6) Chính trị 7) Luật pháp; 8) Khoa học và công nghệ; 9) Thẻ duc thé thao va 10) Gia
đình,... Các thiết chế trên có những nét đặc thù của nó. Ngoài ra ở nông thôn còn có những thiết chế xã hội hội khác mà đô thị hiện đại không có, đó là thiết chế thân tộc, thiết chế xóm làng,... Dưới đây sẽ trình bày những nét đặc thù của một số thiết
chế xã hội cơ bản ở nông thôn.
9.2.1. Thiết chế kinh tế nông thôn
Thiết chế kinh tế được tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất của con người.
Thiết chế này thể hiện ở các chức năng cơ bản: sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng vật phẩm được tạo ra.
Ở nông thôn khi nói đến kinh tế người ta thường thấy rằng, hoạt động kinh tế ở nông thôn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Việc cấy trồng phái tuần thú thời vụ và cách thức tổ chức sản xuất nhất định. Để phù hợp với nền nông nghiệp lúa nước, con người Việt Nam có những cung cách tổ chức sản xuất đặc thù của mình. Việc canh nông tuân thủ theo mùa vụ. Cấy trồng, cây con giống được tuyên lựa theo quy trình nhất định. Sản phẩm chủ yếu của sản xuất nông nghiệp là lương thực thực phẩm, đáp ứng nhu cầu trực tiếp của người dân.
Trong xã hội truyền thống, do trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp kém, thô sơ nên hầu hết các tổ chức làng — xã, xóm ấp, thôn được thành lập nhằm đám bảo
cho sự hoạt động kinh tế của các thành viên của cộng đồng. Chính sách đô hộ của
thực dân Pháp đã hình thành một số quần cư nông thôn theo lối sản xuất cây công nghiệp: cao su, cà phê. Đó là các đồn điền. Với nền kinh tế tiêu nông, sản xuất nhỏ, kinh tế hộ gia đình đã tạo ra một phương thức phân phối sản phẩm đặc thù: tự
cung, tự cấp, tự sản, tự tiêu.
Kinh tế dân doanh là một hệ thống có cầu trúc mềm, ngoài kinh tế nhà nước và kinh tế có vốn nước ngoài. Kinh tế dân doanh ở Việt Nam bao gồm: 1) Khối doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh: Doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp năm 1999; hop tác xã hoạt động theo Luật Hợp tác xã năm 2003; 2) Khối ph doanh nghiệp: Hộ kinh doanh cá thể đăng ký tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện; các tổ hợp tác chứng thực tại UBND cấp xã theo bộ Luật dân sự; kinh tế hộ trong nông nghiệp được nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài theo Nghị định
64 ngày 27/9/1993; hộ làm kinh tế trang trại theo Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP
ngày 02-02-2000, trang trại được UBND cấp huyện cấp Giấy chứng nhận trang trại theo Thông tư 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/06/2000 của Bộ
NN&PTNT và Tổng cục Thống kê về tiêu chí trang trại, Thông tư 74/2003/TT-
BNN ngày 04/07/2003 của Bộ NN&PTNT hướng dẫn tiêu chí xác định kinh té trang trại; các hộ gia đỉnh sản xuất phi nông nghiệp và các đoàn thê (tổ chức phi chính phủ ở Trung ương và địa phương) mỗi cá nhân tự do tham gia kinh doanh.
Việc ban hành Luật Doanh nghiệp và Luật Hợp tác xã (2003) làm phát triển các mô hình kinh tế mới trong cơ chế kinh tế thị trường ở nông thôn, đang làm định hình một thiết chế kinh tế mới, mang tính phức hợp, đa dạng, dân chủ, công bằng giữa các thành phần kinh tế.
9.2.1.1. Kinh tế hộ gia đình
Trong xã hội hiện đại, kinh tế hộ gia đình vẫn là căn bản trong hoạt động sản xuất ở nông thôn. Trong nên kinh tế đó, các mô hình sản xuất VAC, VAC-R,...
vẫn đang giữ vai trò quan trọng trong Đỗi mới. Hiện nay cơ chế kinh tế ấy đang
dần biến đổi theo cơ chế thị trường. Nó đã và đang kiểm soát chỉ phối sự thoả mãn
nhu cầu vật chất của các thành viên trong nông thôn. Sự thoả mãn nhu cầu đó phụ thuộc rất nhiều vào phương thức trao đổi và phân phối lưu thông ở nông thôn.
Trong Đổi mới, thiết chế kinh tế này chỉ phối không chỉ cách thức sản xuất mà cá
cách thức tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm sao cho phù hợp với cơ chế kinh tế hàng hoá. Để phát triển theo hướng hàng hoá, trong nông thôn hình thành những
mô hình kinh tế mới — kinh tế trang trại và kinh tế hộ chuyên canh (chuyên trồng
lúa, chuyên chăn nuôi, chuyên canh trên vườn đổi,....). Mô hình phố biến của kinh tế hộ trong thời hiện đại là mô hình VAC, VAC-R, VAC-TS.
9.2.1.2. Kinh tế trang trại ở nông thôn
Đây là một thiết chế kinh tế mới ở nông thôn, là mô hình kinh tế dựa trên sự tổ
chức quản lý hoạt động của hộ gia đình kết hợp với thuê mướn lao động ngoài gia đình, tổ chức sản xuất theo hướng sản xuất hàng hoá, chuyên canh.
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cao hơn hộ gia đình, được hình thành và phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, thay thế cho kinh tế tiêu nông tự cấp tự túc. Kinh tế trang trại là kết quả tất yếu của kinh tế hộ gia đình gắn với sản xuất hàng hoá, là hinh thức tiến bộ của sản xuất nông nghiệp hiện nay. Hoạt động của kinh tế trang trại chịu sự chỉ phối của nền kinh tế thị trường và tuân theo quy luật cung cầu, chấp nhận cạnh tranh. “Trên nền táng kinh tế tự chủ của hộ nông dân đã hình thành các trang trại được đầu tư vốn, lao động với trình độ công nghệ và quản lý cao hơn, nhằm mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá và nâng cao năng suất, hiệu
quả và sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường.” [Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày
2-2-2000 của Chính phủ].
Bảng 9.1: Số trang trại năm 2009 phân theo ngành hoạt động và phân theo địa phương
Trong đớ
a Trang
Tong | Trang trai | Trang trại . trai
sé \ . 3 ˆ Trang trại a trông cây | trông cây x at nudi
. x ny chăn nuôi ì
hàng năm |_ lâu năm trồng
thuỷ sản
Cả nước 119.947 39.769 23.880 20.809 35.489
Đông bằng sông Hồng 43.950 296 529 8.886 4.239
Trung du và miễn núi
phía Bắc 2.640 235 403 1.436 566
Bac Trung Bộ và Duyên
hải miễn Trung 15.893 5.321 3.914 3.047 3.611
Tay Nguyén 8.457 1.195 6.427 780 55
Đồng bằng sông
Củu Long 64.242 31.866 3.161 2.922 26.293
Còn lại 14.765 856 9446 3738 725
[Nguồn http://www.gso.gov.vn/Nông lâm nghiệp và thuỷ sản]
Từ khi triển khai Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 2-2-2000 của Chính phủ
về phát triển kinh tế trang trại, ở nông thôn nước ta đã xuất hiện ngày càng nhiều mô hình trang trại mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo công ăn việc làm cho hang trăm ngàn lao động, tận dụng tốt diện tích mặt nước và đất đai, góp phần tích cực vào quá trình hội nhập của đất nước. Tính đến giữa năm 2009, cả nước có khoảng 150.102 trang trại, bình quân mỗi tỉnh có 2.382 trang trại. Như vậy, trong xã hội nông thôn, mô hình kinh tế trang trại dần dần có chỗ đứng trong các thành phần kinh tế. Kết quả điều tra trang trại, tại thời điểm 01/7/2010, số trang trại chăn nuôi của cả nước tăng 13% so với cùng thời điểm năm 2009 [http://www.gso.gov.vn/
Tình hình kinh tế — xã hội năm 2010]. Có thể nói, xu thế phát triển kinh tế trang trại đang tăng lên đáp ứng hướng sản xuất hàng hoá — nông nghiệp theo cơ chế thị trường.
9.2.7.3. Kinh tế nghệ thủ công nghiệp ở nông thôn
Trong xã hội truyền thống thủ công nghiệp không tách khỏi làng, không rời ruộng đất, họ là một thành viên của làng. Chính vì thế ngành nghề ở nông thôn truyền thống khó có thể phát triển trở thành một lĩnh vực lao động sản xuất xã hội như sản xuất nông nghiệp. Trong làng, yếu tố “thợ thuyền” chỉ giới hạn ở trong lĩnh vực phục vụ sản xuất nông nghiệp, cho nên ngành nghề thủ công nghiệp chỉ là một thứ lao động như là một sự trang điểm cho nông nghiệp. Trong quan niệm cũ, người thợ thủ công nghiệp chỉ là công dân hạng ba, trên những người làm nghề thương nghiệp. Trong cộng đồng nông thôn truyền thống, những ngành phi nông
nghiệp không phát triển là do quan niệm cổ xưa “dĩ nông vi bản”, nó chỉ phối mọi hành vi của các cá nhân. Trong làng — xã của xã hội truyền thống trước đây, do ảnh hưởng và chỉ phối của quan niệm chung cho rằng, buôn bán là công việc thấp hèn, đáng khinh, không được coi trọng.
Trong thời kỳ Đổi mới, nền kinh tế nông thôn phát triển nhanh chóng, trong nông thôn đang diễn ra quá trình phân công lại lao động xã hội. Nền sản xuất nông nghiệp cổ truyền đang được chuyển đổi. Sự chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp đang diễn ra theo xu hướng thích hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh hàng hoá, nhằm đảm bảo mức sống đủ ăn, đủ mặc, và vươn đến giàu sang, phú quý. Nhưng tiến trình đó diễn ra chậm, bởi vì nó gặp không ít khó khăn khi bước
vào đổi mới.
Trong thời kỳ Đổi mới, kinh tế làng — xã không còn là một đơn vị kinh tế tự
cung, tự cấp, không còn kinh tế tập thể chỉ huy như trong giai đoạn hợp tác xã trước đây. Sự phân công lại lao động xã hội cho thấy quan niệm mới về ngành nghề phi nông nghiệp đang biến đổi. Tư tưởng “phi thương bất phú” đang lấy lại gia tri cho một loại hình lao động phi nông nghiệp — thương nghiệp.
Định hướng mở mang thêm việc làm, ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn
là một định hướng tiến bộ. Nó vừa phù hợp với tất yếu lịch sử vừa là nguyện vọng
của số đông người dân lao động ở nông thôn nước ta. Mức độ phi nông nghiệp hoá là thước đo cho sự tiến bộ xã hội theo hướng chuyên đổi sang kinh doanh hàng hoá và cơ chế kinh tế thị trường. Đồng thời là thước đo quan trọng của quá trình đô thị hoá có tác dụng chuyên đổi xã hội nông thôn nghèo nàn, lạc hậu sang một xã hội có cuộc sống ấm no, giàu đẹp. Mức phi nông nghiệp hoá của nước ta còn thấp. Ở nông thôn nước ta vào đầu thiên nhiên kỷ, tỷ trọng phi nông nghiệp vẫn chưa đạt quá 20% [Tô Duy Hợp, 1992].
“ Nhiều nghề và làng nghề truyền thống đã nỗi bật lên trong lich sử Việt Nam. Ở
đó không chỉ tập trung một hay nhiều nghề thủ công, trở thành một trung tâm sản xuất lớn hoặc khá lớn, mà còn là nơi hội tụ các thợ và nghệ nhân tài khéo, tạo ra
những sản phẩm có bản sắc riêng, nơi khác khó bề bắt chước được. Làng nghề là
cả một môi trường văn hoá — kinh tế — xã hội và công nghệ truyền thống lâu đời.
Nó bảo lưu những tỉnh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác, chung đúc ở các thế hệ nghệ nhân tài năng, với những sản phẩm có bản sắc riêng của mình, nhưng lại tiêu biểu và độc đáo của cả dân tộc Việt Nam. Làng nghề truyền thống từ lâu đã làm phong phú thêm truyền thống văn hoá Việt Nam.
Trong những năm 2000, sự phát triển nghề, làng nghề đã góp phần thúc đây
chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ nông thôn và góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động. Hiện nay, các ngành nghề ở nông thôn đã thu hút khoảng 29,5% lực lượng lao động tại chỗ. Hoạt động ngành nghề đã phát triển