Trong tác phẩm Đưèmg Kách mệnh (1927), Hồ Chí Minh bàn nhiều về lý luận tổ chức cách mạng. Bên cạnh
1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.io, tr.92, 93.
các tổ chức chính trị, đoàn thể và xã hội, Ngưòi quan tâm đến "Cách tổ chức công hội" dành cho công nhân, và "Tổ chức dân cày" dành cho nông dân.
Qua nội dung và cách trình bày của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy nổi bật vấn đề; muôn làm cách mạng thành công, tất yếu phải tổ chức lực lượng cách mạng và thường xuyên giáo dục tư cách và đạo đức cách mạng. Dù là hình thức tổ chức nào, quy mô lốn nhỏ ra sao, thì cũng phải đầy đủ ba yếu tố: mục đích, biện pháp và tổ chức thực hiện.
Đối với kinh tế, tổ chức sản xuất cũng là nhân tô" rất quan trọng, cũng là tổ chức lực lượng - lực lưỢng sản xuất, và trong quá trình đó tất yếu hình thành các mốỉ quan hệ - quan hệ sản xuất, trong đó quan trọng là mốỉ quan hệ giữa những ngưòi lao động vói nhau và vối bộ máy quản lý. Hồ Chí Minh, ngay từ ngày đó, đã lựa chọn hỢp tác xã làm hình thức tổ chức sản xuất cơ bản, chuẩn bị cho cuộc cách mạng về kinh tế khi giành được độc lập cho dân tộc. Theo Người, hỢp tác xã là mầm mông, vừa mang tính kinh tế vừa.mang tính xã hội của chủ nghĩa xã hội. HỢp tác xă có bốh loại hình: hỢp tác xã tín dụng, hợp tác xã mua, hỢp tác xã bán và hỢp tác xã sản xuất;
tức là tất cả các hoạt động kinh tế đều có thể tổ chức thành hỢp tác xã và giữa bốh loại hình hỢp tác xã này có môì quan hệ tác động lẫn nhau chặt chẽ.
Việc lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất là hợp tác xã, Hồ Chí Minh xuất phát từ đặc điểm và hoàn cảnh đặc thù của nền kinh tế - xã hội Việt Nam. Sau này,
ngày 11-4-1946, trong Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh; "Việt Nam là một nước sốhg về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn.
Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hỢp tác xã"‘.
Như vậy, vấn đề sống còn của một đảng cách mạng là xác định đường lối, trong đưòng lối kinh tế, việc xác định cd cấu kinh tế là quan trọng, tức là xác định vai trò và tỷ lệ của các ngành kinh tế trong nền kinh tế.
Việc xác định này đúng hay không đúng, hợp lý hay không hỢp lý sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình phát triển kinh tế, đến mục tiêu cần đạt tói của cách mạng.
Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, phần "Vể phương diện kinh tế", Hồ Chí Minh xác định; "Mở mang công nghiệp và nông nghiêp".
Hồ Chí Minh rất quan tâm đến quan hệ giữa công 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr. 215.
nghiệp và nông nghiệp. Cách lý giải của Người rất độc đáo. Người chỉ ra rằng: "Nước ta vôVi là một nưốc nông nghiệp lạc hậu. Đó là chỗ bắt đầu đi của chúng ta...
Đòi sống nhân dân chỉ có thể th ật dồi dào, khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất một cách thật rộng rãi: dùng máy móc cả trong công nghiệp và trong nông nghiệp. Máy sẽ chắp thêm tay cho ngưòi, làm cho sức ngưòi tăng lên gấp trăm, nghìn lần và giúp ngưòi làm những việc phi thưòng.
MuôVi có nhiều máy, thì phải mỏ mang các ngành công nghiệp làm ra máy, ra gang, thép, than, dầu... Đó là con đưòng phải đi của chúng ta, con đường công nghiệp hóa nước nhà.
Hiện nay, chúng ta lấy sản xuất nông nghiệp làm chính. Vì muốh mỏ mang công nghiệp thì phải có đủ lương thực, nguyên liệu. Nhưng công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu phấn đấu chung, là con đưòng ấm no thật sự của nhân dân ta"'.
Ngắn gọn và súc tích! Chỉ rất ít chữ mà Hồ Chí Minh đã nói lên chiến lược kinh tế, về đưòng lối công nghiệp hóa, về vị trí, vai trò và mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, về mục tiêu trước mắt và lâu dài, về những nhiệm vụ cụ thể của bước đi ban đầu
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.io , tr. 41.
trong thòi kỳ quá độ đi lên chủ n ghĩa xã hội.
Về công nghiệp, Hồ Chí Minh bàn sâu các quan hệ giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, giữa công nghiệp trung ương và công nghiệp địa phương, giữa công nghiệp quốc doanh và công nghiệp ngoài quốc doanh, giữa các ngành công nghiệp với nhau. Hồ Chí Minh quan niệm: ...Chưa có công nghiệp nặng thì chưa thể có một nền kinh tế tự chủ và giàu mạnh được.
Ngưòi xác định: Công nghiệp quốc doanh có vai trò chủ đạo, các xí nghiệp quốc doanh phải chú ý giúp đỡ làm cho công nghiệp địa phương ngày một phát triển.
Nhưng các địa phương không nên ỷ lại vào trung ương mà phải chú ý làm cho đúng phương châm: "vốh, nguyên liệu, vật liệu, nguồn của địa phương là chính;
sản xuất hàng ra chủ yếu bán ỗ địa phương. Cụ thể hơn, khi nói về công nghiệp địa phương ỏ miển núi, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: "Công nghiệp địa phương cần phải nhằm cung cấp những hàng hóa và dụng cụ thích hỢp vói nhu cầu của đồng bào các dân tộc, trưôc hết là các thứ nông cụ. Phải làm đúng 4 chữ; nhiều, nhanh, tốt, rẻ"'.
Như vậy, mục tiAu cần đi tới là phát triển đất nưôc thịnh vượng, nhân dân ấm no, theo Hồ Chí Minh xác
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.io, tr. 284.
định, chẳng có con đường nào khác là phải thực hiện công nghiệp hóa đất nưốc. Công nghiệp hóa là nhiệm vụ chiến lược để đạt mục tiêu duy nhất của cách mạng, ở đây, phương châm "dĩ bất biến ứng vạn biến" lại được Hồ Chí Minh vận dụng một cách sáng tạo và triệt để.
Để có "một nền kinh tế tự chủ và giàu mạnh" thì phải xây dựng nền công nghiệp nặng phát triển vững chắc, phải tiến hành công nghiệp hóa nưốc nhà. Mục tiêu là bất biến, biện pháp thực hiện là linh hoạt, thay đổi phù hỢp với tình hình, điều kiện của từng bước đi, từng thòi kỳ xác định. Nội dung và phương thức tiến hành công nghiệp hóa không thể giông nhau ở tất cả các giai đoạn, thòi kỳ; và, việc xác định cụ thể cho từng bước đi ắt phải thay đổi, điều chỉnh, bổ sung hoặc hoán cải cụ thể trong quá trình xây dựng cơ cấu kinh tế, trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất một cách hỢp lý. Đó cũng chính là sự điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế, để làm sao phù hỢp với quy luật; quan hệ sản xuất thay đổi tương ứng với tính chất và trình độ lực lượng sản xuất.
Xuất phát từ một nền kinh tê nông nghiệp là chủ yếu, trình độ sản xuất còn lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, yếu kém, thì quá trình thực hiện công nghiệp hóa ở nưốc ta không thể vội vàng, không thể đốt cháy giai đoạn. Thực hiện công nghiệp hóa nước nhà trong điều kiện như vậy và trong hoàn cảnh đất
nưóc tạm chia cắt, không có cách nào khác là trước mắt phải phát triển nông nghiệp, bảo đảm những nhu cầu thiết yếu, từng bước cải thiện đòi sôVig cho nhân dân, cho bộ đội và thực hiện tích lũy dần dần cho cÔRg cuộc mỏ mang nền kinh tế. Công nghiệp và nông nghiệp, như cách nói của Hồ Chí Minh, là hai chân của nền kinh tế, hai chân phải cùng khỏe, cùng bước đi nhịp nhàng và vững vàng. Và, để thực hiện được điều đó, thì các ngành trong công nghiệp và trong nông nghiệp phải phát triển toàn diện, cân đôi và không ngừng nâng cao chất lượng phát triển. Sinh thòi, trên cương vị người lãnh đạo cao nhất của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh thưòng xuyên quan tâm đến tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế; một mặt, Người chỉ ra những nội dung cơ bản, những biện pháp chủ yếu để các ngành, các lĩnh vực thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển theo đúng định hướng của mục tiêu; mặt khác, Người tiến hành giáo dục mọi ngưòi cách thức tư duy, ý thức và tinh thần lao động vói cương vị những ngưòi làm chủ xã hội, làm chủ đất nưốc, làm th ế nào để ai cũng có đóng góp phần mình một cách thiết thực cho cách mạng, cho nhân dân.
Nghiên cứu những bài nói chuyện, những bài viết của Hồ Chí Minh, chúng ta nhận thức được rằng;
1. Hồ Chí Minh có một tầm nhìn xa và rộng, bao
quát hết thảy mọi vấn để, mọi khía cạnh của quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế - xã hội đất nưốc.
Quá trình đó thật là lâu dài và đầy rẫy những khó khăn. Nhưng Người luôn hằng tin tưỏng vào sự thắng lợi và mong muôn Đảng ta, nhân dân ta mau chóng thực hiện thành công, thành công từng bước chắc chắn, thành công hoàn toàn. Niềm tin ấy Ngưòi đặt vào nhân dân, vào sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, vào tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, vào ý chí phát huy những truyền thốhg tốt đẹp được dân tộc kết tinh hàng ngàn năm và tinh thần cách mạng tiến công không ngừng để làm chủ thòi đại. Cốt lõi của niềm tin ấy là tình cảm yêu dân của Ngưòi. Người mong mỏi nhân dân được hưởng ấm no, hạnh phúc trong hòa bình.
Tư tưởng của Người là tư tưỏng nhân nghĩa - nhân đạo - nhân văn. Hành động của Người là hành động của ngưòi cách mạng chân chính - hy sinh qu3'ền lợi cá nhân vì quyền lợi của dân tộc, của nhân dân. Ngưồi là hiện thân của khát vọng dân tộc, khát vọng thời đại.
2. Tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh được biểu hiện cụ thể qua một hệ thống tư duy chặt chẽ và cụ thể, vừa sâu sắc vừa đa dạng. Điều này cho thấy sự hiểu biết của Người về lý thuyết kinh tế học vô cùng phong phú, sự am hiểu của Người về thực tiễn sản xuất - kinh doanh ở nhiều mặt khác nhau; và, sự vận dụng vào thực tê
những kinh nghiệm tiên tiến, hiện đại kêt hỢp vói truyền thống ỏ Ngưòi hết sức độc đáo. Bỏi, sau khi rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, Người đã đặt chân lên nhiều thành phô^ lốn, nhiều trung tâm kinh tế và văn hóa lớn của hầu hết các châu lục và trước khi đến cư trú ố Pháp khá lâu, trước khi tiếp cận vối Luận cương của Lênin và trở thành một trong những ngưòi sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, ủng hộ Quốc tế III, Ngưòi đã có ba năm ồ thủ đô Luân Đôn của Anh quốc, nghiên cứu sâu những học thuyết của các nhà kinh tế kinh điển Anh và thế giới, am hiểu quá khứ và hiện tại của nền kinh tế Anh - quê hướng của chủ nghĩa tư bản.
Sau này, mặc dù chưa khi nào Hồ Chí Minh kể về thòi kỳ ỏ Anh, về sự nghiên cứu kinh tế học, nhưng trong các tác phẩm và trong các bài nói của Ngưòi chúng ta vẫn nhận ra một khối lượng tri thức đồ sộ về những vấn đề then chốt của kinh tế học, tuy nhiên những tri thức ấy được Ngưòi thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ giản dị mà đầy đủ, toàn diện, ngắn gọn mà súc tích. Cái vỏ ngôn ngữ ấy chứa đựng khối lượng lý thuyết to lớn và hệ thống lý luận sắc bén. Ngưòi sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích một cách hệ thống theo phong cách của nhà hiền triết phương Đông. Ngưòi rất ít dùng các thuật ngữ kinh tế học cứng nhắc, mà sử dụng nhuần nhuyễn tiếng Việt - thứ tiếng Việt phổ thông,
thứ tiếng Việt dần gian có sẵn trong ca dao, tục ngữ, phương ngữ, nhằm truyền đạt dễ hiểu, dễ làm theo. Khi diễn đạt về tầm quan trọng của công nghiệp nặng, Người nói: "Quan trọng nhất trong đòi sốhg của nhân dân là vấn đề ăn. Để giải quyết tốt vấn đề ăn thì sản xuất lương thực phải dồi dào. Muốn như vậy, thì công nghiệp phải giúp cho nông nghiệp có nhiều máy làm thủy lợi, máy cày, máy bừa, nhiều phân hóa học, v.v."'.
Cách nói của Ngưòi, theo lối dân dã, nhằm tói nhiều mục đích khác nhau. Nội dung đoạn trích trên bao gồm các ý về; mục đích, bước đi, yêu cầu, phương pháp, biện pháp; tổ chức sản xuất, cơ cấu sản xuất; mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, mối quan hệ giữa các ngành, mối quan hệ giữa người lao động sản xuất công nghiệp với ngưòi lao động sản xuất nông nghiệp...
Phong cách tư duy của Hồ Chí Minh không có trong tư duy tư biện lý luận phưđng Tây, song không đơn giản, không lạc hậu, ngược lại vẫn hiện đại - hiện đại ỏ tính tổng hỢp, tính hệ thống, tính lôgic biện chứng. Đôi khi, Hồ Chí Minh dùng một vài thuật ngữ kinh tế học, như
"tích lũy để mỏ rộng sức lao động", "hạ giá thành", V . V . , thì các thuật ngữ đó đã được Việt hóa trong một ngữ cảnh đượm tính dân tộc, tính nhân dân, vừa có ý nghĩa
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.ll, tr. 352.
giải thích cho rõ ràng vừa kích thích tư duy của người nghe, ngưòi đọc dễ liên tưỏng đến thực tế.
Cách nói, cách viết của Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu rõ ràng, có mục đích cụ thể.
3. Đó là giáo dục, tuyên truyền, vận động nhân dân, cán bộ đổi mới tư duy trong thực hiện và trong chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế đi đôi với xây dựng và phát triển xã hội. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rất rõ, rất sâu sắc tâm lý và cách tư tuy của người Việt Nam, mà đại bộ phận là nông dân, xuất phát từ nông dân - luôn luôn đòi hỏi mọi vấn đề phải đưỢc chứng minh bằng thực tế - một thực tế phải nhìn thấy đưỢc, kể cả tích cực và tiêu cực, thành công hay th ất bại, một thực tế của lợi ích thiết thực đốì với nước, với dân. Vì vậy, muốh đạt hiệu quả giáo dục và rú t ngắn thòi gian giáo dục, Hồ Chí Minh lựa chọn phương pháp; nói đi đôi với làm, nói ít làm nhiều, gương mẫu làm trưốc. Tác phẩm Đời sống mới của Hồ Chí Minh xuất bản năm 1947, ký tên Tân Sinh, dưổi dạng hỏi - đáp, thực chất là một bản chỉêh lược về đổi mới. Quan điểm đổi môi của Hồ Chí Minh là toàn diện, tổng hỢp. Trước hết đó là sự đổi mổi về nhận thức, về tư tưỏng, từ đó đổi mói về hành động. Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Làm th ế nào cho đòi sốhg của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được
vui mạnh hơn. Đó là mục đích đồi sống mới"‘.
Để đạt ô đưỢc # mục đớch đú là cả một quỏ trỡnh lõu ô ô ô dài, thưòng xuyên và liên tục, cần phải kiên trì, nỗ lực trên tinh thần đoàn kết toàn dân. Bản chất của đổi mới là phát triển - đổi mói để phát triển và phát triển là đổi mới liên tục - đó là tinh thần tiến công cách mạng. Con đường thực hành đòi sống mói, theo Hồ Chí Minh, là Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Đó cũng là con đường phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và tiếp tục xây dựng một nền văn hóa mới, một nền đạo đức xã hội mới, xuất phát tìĩ việc giáo dục và xây dựng con ngưòi mới. Trong tác phẩm sửa đổi lối làm việc, xuất bản năm 1948, ký tên X.Y.Z, Hồ Chí Minh cho rằng:
việc sao nhãng học tập của cán bộ, đảng viên là "một khuyết điểm rấ t to", cần phải "tẩy sạch", tức là thiếu tri thức thì.khó có thể tiến bộ trong công việc. Cái nền, cái gốc của đổi mới là tri thức. Nhiệt tình cách mạng không thể thay thê cho hiểu biết được. Cho nên, sự hiểu biết tường tận và thường xuyên trau dồi, nâng cao trình độ hiểu biết trỏ thành tiờu chuẩn cơ bản của đạo đức cỏchô
mạng. Đạo đức cách mạng không phải là khái niệm trừu tượng, mơ hồ; nó cụ thể hóa bằng việc mỗi cá nhân có thực hiện tôt phương châm lý luận gắn liền vối thực
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr. 95.