Gv cho hs tìm ý qua bài thơ ông đồ

Một phần của tài liệu GIAO AN dạy THEM VAN 8 DIEP (Trang 101 - 107)

Đề 2: Đọc kĩ đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:

“Năm nay đào lại nở Không thấy ông đồ xưa.

Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?”

(Ngữ văn 8- tập 2) Câu 1: Đoạn văn trên trích trong văn bản nào? Tác giả của văn bản ấy là ai? Kể tên một bài thơ cùng thuộc phong trào Thơ Mới trong chương trình ngữ văn 8 học kì 2.

Câu 2: Câu thơ cuối của đoạn thơ trên thuộc kiểu câu gì? Mục đích nói của câu đó là gì?

Câu 3: Đoạn thơ trên đã thể hiên cảm xúc gì của nhà thơ?

Câu 4: Khái quát giá trị nội dung – nghệ thuật văn bản.

Gv gợi ý, hướng dẫn hs làm bài:

Yêu cầu:

Câu 1:

- Đoạn văn trên khiến em liên tưởng tới văn bản: Ông đồ - Tác giả: Vũ Đình Liên

- Thuộc thể thơ ngũ ngôn

- Bài thơ thuộc phong trào thơ mới: Nhớ rừng Câu 2:

Câu thơ cuối của đoạn thơ trên thuộc kiểu câu nghi vấn. Mục đích nói của câu đó là bộc lộ cảm xúc

Câu 3:

- Đoạn thơ trên đã thể hiên nỗi niềm xót xa, thương tiếc của nhà thơ trước việc vắng bóng hình ảnh ông đồ vào mỗi dịp xuân về. Từ hình ảnh ông đồ, thi sĩ đã liên tưởng tới hình ảnh “Những người muôn năm cũ” và tự hỏi. Câu hỏi tu từ đặt ra là một lời tự vấn, tiềm ẩn sự ngậm ngùi day dứt. Đó là nỗi niềm trắc ẩn, xót thương cho những người như ông đồ đã bị thời thế khước từ.

Câu 4:

* Giá trị nội dung

- Tác phẩm khắc họa thành công hình cảnh đáng thương của ông đồ thời vắng bóng, đồng thời gửi gắm niềm thương cảm chân thành của nhà thơ trước một lớp người dần đi vào quá khứ, khới gợi được niềm xúc động tự vấn của nhiều độc giả

* Giá trị nghệ thuật

- Bài thơ được viết theo thể thơ ngũ ngôn gồm nhiều khổ - Kết cấu đối lập đầu cuối tương ứng, chặt chẽ

- Ngôn từ trong sáng bình dị, truyền cảm

2. Tiết 3: Gv tiếp tục cho hs khai thác kiến thức về đoạn văn viết về Ông đồ.

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

[...] Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẽ, không chỉ có bóng ông đồ mà cả cái tiêu điều của xã hội qua mắt của ông đồ. Tác giả đã có những chi tiết thật đắt: nơi ông đồ là bút mực, nơi trời đất là gió mưa, nơi xã hội là sự thờ ơ không ai hay.

Thể thơ năm chữ vốn có sức biểu hiện những câu chuyện dâu bể, hoài niệm, đã tỏ ra rất đắc địa, nhịp điệu khơi gợi một nỗi buồn nhẹ mà thấm. Màu mưa bụi khép lại đoạn thơ thật ảm đạm, lạnh, buồn, vắng. Như vậy cũng chỉ với tám câu, bốn mươi chữ, đủ nói hết những bước chót của một thời tàn. Sự đối chiếu chi tiết ở đoạn này và đoạn trên: mực với mực, giấy với giấy, người với người, càng cho ta cái ấn tượng thảng thốt xót xa của sự biến thiên. [...]

(Vũ Quần Phương) Câu 1: Đoạn văn trên khiến em liên tưởng tới văn bản nào đã học trong chương trình Ngữ văn 8 kì 2? Trình bày tác giả và hoàn cảnh sáng tác của văn bản ấy.

Câu 2: Văn bản được viết theo thể thơ nào? Xác định PTBĐ của văn bản.

Câu 3: Em hiểu gì về khoảng thời gian “một thời tàn” mà tác giả Vũ Quần Phương nhắc đến trong phần văn bản trên? Qua đó, em có suy nghĩ gì về số phận ông đồ trong thời buổi ấy?

Câu 4: Trong văn bản được gợi nhắc từ đoạn văn trên có hai câu:

“Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay.”

Cho biết tên và tác dụng của biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng trong hai dòng thơ ấy.

Câu 5 : Hãy trình bày bài học rút ra từ văn bản em vừa tìm được trong Gv gợi ý hướng dẫn hs làm bài.

Câu 1:

- Đoạn văn trên khiến em liên tưởng tới văn bản: Ông đồ - Tác giả: Vũ Đình Liên

- Hoàn cảnh sáng tác: Từ đầu thế kỉ XX, nền văn Hán học và chữ Nho ngày càng suy vi trong đời sống văn hóa Việt Nam, khi mà Tây học du nhập vào Việt Nam, có lẽ vì đó mà hình ảnh những ông đồ đã bị xã hội bỏ quên và dần vắng bóng. Vũ Đình Liên đã viết bài thơ Ông đồ thể hiện niềm ngậm ngùi, day dứt về cảnh cũ, người xưa.

Câu 2:

- Thể thơ: ngũ ngôn (5 chữ)

- PTBĐ: biểu cảm, kết hợp tự sự, miêu tả Câu 3:

- Khoảng thời gian “một thời tàn” mà tác giả Vũ Quần Phương nhắc đến trong phần văn bản trên là giai đoạn Hán học suy vi, các nhà nho (ông đồ) từ vị trí trung tâm được coi trọng bị thời cuộc bỏ quên trở nên thất thế

- Số phận ông đồ trong thời điểm ấy rất đáng thương và tội nghiệp Câu 4:

+ Phép hoán dụ : hoa tay (Ông đồ rất tài hoa, viết câu đối đẹp) + Phép so sánh : thảo - như - phượng múa rồng bay.

+ Sử dụng thành ngữ: “phượng múa rồng bay”: làm nổi bật vẻ đẹp trong nét chữ của ông: Nét chữ rất đẹp, bay bướm, uốn lượn, vừa phóng khoáng, bay bổng, song lại cao quý, oai phong, sống động, có hồn.

Với bút pháp miêu tả tinh tế, ngôn ngữ điêu luyện, trong hai câu thơ, tác giả như khắc hoạ trước mắt người đọc hình ảnh của ông đồ với đôi bàn tay già, gầy guộc đưa lên hạ xuống như bay như múa, như đang tung hoành trên nền giấy điều thắm tươi. Lúc này đây ông đồ như một người nghệ sĩ tài hoa trước công chúng

Đề nâng cao: (Dành cho lớp T2)

Có ý kiến cho rằng: “Tế Hanh đã viết về làng quê của ông với một tình cảm trong sáng, đằm thẳm”.

Qua bài thơ Quê hương em hãy viết một đoạn văn 8-10 câu làm sáng tỏ ý kiến trên.

Gv gợi ý, hs làm bài.

Yêu cầu: a. Hình thức

Yêu cầu viết dưới dạng đoạn văn ngắn.

b. Nội dung của vấn đề chứng minh

Tình yêu quê hương, đất nước trong sáng và đằm thắm.

- Tình yêu quê hương trong sáng được thể hiện trong cách cảm nhận, miêu tả về làng quê.

- Tác giả không chỉ miêu tả những hình ảnh bên ngoài của quê hương với “cái nhìn bằng thị giác” mà còn cảm nhận được cái hồn của quê hương ẩn kín bên trong con người và cảnh vật. Đó là cái nhìn thông qua lăng kính tâm hồn.

- Tình yêu quê hương của Tế Hanh còn thể hiện trong nỗi nhớ thiết tha, sâu sắc với một giọng thơ đằm thắm ngân vang. Nhớ về hình ảnh thân quen của quê hương, một quê hương cụ thể, gắn bó máu thịt với giả không thể nào lẫn lộn được. Đó là một quê hương miền biển.

* Hoạt động ứng dụng.

Yc hs khái quát kiến thức .

? * Hoạt động bổ sung.

Làm tiếp bài tập vào vở Ngày soạn: 11 /1/2022 Ngày dạy : 24 / 1/ 2022

ÔN TẬP TẬP LÀM VĂN THUYẾT MINH. ( Tiếp Theo) A. Mục tiêu cần đạt

1. Kiến thức.

-Học sinh thuyết minh được các đặc điểm về loài hoa trong ngày Tết.

2. Kỹ năng.

- Rèn kỹ năng tìm ý viết đoạn văn, viết bài cho học sinh.

3. Thái độ

- Giáo dục ý thức tự giác, ticch cực học tập.

4. Định hướng phát triển năng lực:

Năng lực giaỉ quyết vấn đề, sáng tạo, sử dụng ngôn ngữ, giao tiếp, cảm thụ thẩm mĩ.

B. Chuẩn bị.

- GV: Nghien cứu soạn giáo án - HS : ôn tập theo hướng dãn.

C. Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy và học.

* Hoạt động thực hành

Tiết 1: Gv chép đề bài lên bảng, yêu cầu hs đọc, lập dàn ý.

Thuyết minh về một loài hoa mà em yêu thích trong ngày tết

Hs lập dàn ý, trình bày, gv gọi hs khác nhận xét, gv sửa, yêu cầu hs viết bài.

1.Mở bài

- Giới thiệu loài hao ngày tết: Hoa hồng.

2. Thân bài:

a. Nguồn gốc:

- Hoa hồng có tên khoa học là Rose, thuộc họ hoa hồng, có xuất xứ ôn đới và á nhiệt đới, vùng bắc bán cầu

b. Đặc điểm

- Hoa Hồng thuộc họ rễ chùm, là loại cây thân gỗ bụi, thân và cành có gai nhọn, đó là một trong những nét đặc trưng của cây hoa hồng.

- Lá hoa hình bầu dục, rìa lá có răng cưa, gân lá hình mạng.

- Cánh hoa còn tùy thuộc vào từng loại hoa hồng

- Hoa hồng có ba loại chính, đó là: hoa hồng dại, hoa hồng cổ điển và hoa hồng hiện đại

c. Công dụng

- Cây hoa hồng như mang trong nó tâm linh của loài người, mỗi cánh hoa như ấp ủ một nỗi niềm, một tình cảm sâu lắng nào đó của con người. - Hoa hồng được phục vụ cho đời sống vật chất của con người

d. Cách chăm sóc và bảo quản 3. Kết bài

Khái quát ý nghĩa cây hoa hồng.

2. Tiết 2+3 . Từ dàn ý trên, gv cho hs viết thành bài hoàn chỉnh, gv sửa uốn nắn cho hs.

Tham khảo:

1. Mở bài.

Không biết tự bao giờ, cây hoa hồng đã trở thành một loài hoa tôn quý, vẻ đẹp của nó không thanh cao như hoa mai, không sặc sỡ như hoa ngũ sắc. Nhưng nó mang một vẻ

đẹp mềm mại mà nhẹ nhàng, êm đềm như tình cảm của con người.

2. Thân bài a. Nguồn gốc

- Hoa hồng có tên khoa học là Rose, thuộc họ hoa hồng, có xuất xứ ôn đới và á nhiệt đới, vùng bắc bán cầu. Theo các nhà khoa học, thực vật học thì hoa hồng đã xuất hiện trên trái đất khoảng vài chục triệu năm, còn cây hoa hồng được con người thuần chủng đưa vào trồng trọt cũng đã cách nay khoảng vài ngàn năm.

Người ta khẳng định hoa hồng đầu tiên ở Trung Quốc và Tiểu Á, sau đó mới du nhập vào châu Âu, nhưng người châu Âu lại có công lai tạo ta giống hoa hồng hiện đại ngày nay. Trên thế giới, mỗi khi nhắc đến đất nước Bungari, người ta lại nhắc đến cây hoa hồng. Nếu như nói Nhật Bản là xứ sở của hoa anh đào thì Bungari lại là xứ sở của hoa hồng. Cây hoa hồng được trồng ở hầu khắp cả nước ta, đặc biệt là Đà Lạt.

b. Đặc điểm

- Hoa Hồng thuộc họ rễ chùm, là loại cây thân gỗ bụi, thân và cành có gai nhọn, đó là một trong những nét đặc trưng của cây hoa hồng.

- Lá hoa hình bầu dục, rìa lá có răng cưa, gân lá hình mạng.

- Cánh hoa còn tùy thuộc vào từng loại hoa hồng. Hồng nhung Đà Lạt có thể xem là loại hồng đẹp nhất nước ta, cánh hoa mềm mại, xếp chồng xen kẽ lên nhau, gần như hình trái tim mang một màu đỏ tươi thắm, nó như hội tụ tất cả những tinh túy của đất trời, của cuộc sống, của thế giới các loài hoa.

- Hoa hồng có ba loại chính, đó là: hoa hồng dại, hoa hồng cổ điển và hoa hồng hiện đại.Hồng dại thường được thấy ở những nơi hoang dã, mọc ngoằn nghèo nên còn gọi là hồng leo. Hồng cổ điển là những giống hồng được thuần chủng, lai tạo từ trước năm 1867. Còn hồng hiện đại là những giống hồng được lai tạo từ sau năm 1867. Ở nước ta, hoa hồng còn được phân loại theo đặc tính của cây như:

hồng cứng, hồng thạch, hồng quế, hồng cánh sen, hồng vàng...

c. Công dụng

- Cây hoa hồng như một món quà thiên nhiên đã ban tặng cho con người chúng ta, nó làm phong phú thêm đời sống vật chất và tinh thần của con người. Người ta nói, hoa hồng tượng trưng cho tình yêu: tình yêu gia đình, tình mẫu tử, tình thầy trò, tình yêu đôi lứa...

- Cây hoa hồng như mang trong nó tâm linh của loài người, mỗi cánh hoa như ấp ủ một nỗi niềm, một tình cảm sâu lắng nào đó của con người. Trong ngày lễ "vu lan", vào chùa chúng ta thường thấy những bông hồng cài trên ngực áo thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng, rồi đến ngày Nhà giáo Việt Nam, từng lớp học trò lần lượt mang những canh hồng đỏ thắm dâng tặng lên thầy, cô kính yêu như thể hiện lòng biết ơn. Ngày lễ Valentin, ngày 8/3... chúng ta cũng không quên những bông hồng xinh xắn tặng cho các mẹ, các chị và đặc biệt là người yêu mình. Cứ như thế, cây hoa hồng đi vào thơ ca một cách tự nhiên không biết từ lúc nào, chúng ta thường

nghe câu nói dân gian Hoa đẹp là hoa có gai, câu nói đó ám chỉ cây hoa hồng, rồi ta cũng thường nghe bài hát Bông hồng cài áo, đọc tác phẩm Hoa hồng Bungari...

- Không những phục vụ cho đời sống tinh thần, hoa hồng được phục vụ cho đời sống vật chất của con người. Một phòng họp, một phòng khách, một quán trà... có thêm một cành hồng trên bàn cùng đủ làm cho không gian thêm trang trọng và lãng mạn. Có thể nói rằng hoa hồng có tính trang trí cao. Hương hoa hồng không thơm ngát như hoa lài mà ngược lại rất nhẹ nhàng, dễ chịu. Vì vậy, hoa hồng được nhiều nước chọn nguyên liệu để làm nước hoa, mĩ phẩm, góp phần tôn lên vẻ đẹp của con người. Hoa hồng cũng được trồng kể kinh doanh, thu lợi nhuận.

d. Cách chăm sóc và bảo quản

- Nhìn chung, hoa hồng ở Việt Nam thích nghi nhiệt độ trung bình từ 18 - 25oC, độ ẩm tối đa 85%, lượng mưa trung bình hàng năm từ 1000-2000 mm, độ pH từ 5,6 - 6,5. Trong mùa hè, do nhiệt độ lên cao, độ ẩm lớn cây hoa hồng có nguy cơ xuất hiện các loại bênh như gỉ sắt, phấn trắng, rệp. Nếu cây bị nấm phấn trắng trong vụ xuân thì dùng đồng sulfat 1% để tưới, đồng thời phải cắt bỏ những cành bị bệnh nặng và đốt đi. Đất dùng để trồng hoa hồng phải bằng phẳng, tơi xốp.Hoa hồng thường được nhân giống theo ba cách: giâm cành, chiết cành hoặc ghép cành.

3. Kết bài

Như thế, cây hoa hồng là loài hoa tượng trưng cho sắc đẹp và tâm tình, nó không thể thiếu trong đời sống vật chất lẫn tinh thần của con người. Vì vậy, bảo vệ và phát triển giống hoa hồng là điều cần thiết mà con người cần làm hiện nay.

Tiết 4: Lập dàn ý cho đề bài

Thuyết minh về thể thơ thất ngôn tứ tuyệt 1. Mở bài:

Giới thiệu thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.

2. Thân bài:

Nêu đặc điểm của thể thơ.

- Mỗi bài có bốn câu, mỗi câu có bảy tiếng.

- Số dòng số chữ trong câu trong bài bắt buộc không được thêm bớt

- Luật bằng trắc: có bài gieo vần bằng hoặc gieo vần trắc nhưng bằng là phổ biến - Cách đối: đối hai câu đầu hoặc hai câu cuối, có bài vừa đối hai câu đầu, vừa đối hai câu cuối hoặc không có đối.

- Cách hiệp vần: Thường chữ cuối câu một bắt vần với chữ cuối câu 2,4. Chữ cuối câu hai bằng vần với chữ cuối câu cuối.

- Bố cục:

+4 phần :khai, thừa, chuyển, hợp

+2 phần: 2 câu đầu tả cảnh, hai câu cuối tả tình - Những nhận xét, đánh giá chung

- Ưu điểm: là thể thơ Đường có sự kết hợp hài hoà cân đối cổ điển nhạc điệu trầm bổng đăng đối nhịp nhàng. Có nội dung rất đa dạng và phong phú.

Nhược điểm: Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt có thi pháp chặt chẽ, nghiêm cách, vô cùng đa dạng nhưng không hề đơn giản, số câu số chữ bắt buộc không được thêm bớt.

3. Kết bài

Nêu vị trí của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt: Có vị trí quan trọng là một trong những thể thơ hay góp phần vào những thành tựu rực rỡ về thơ ca của nền văn học.

* Hoạt động ứng dụng.

Yc hs về nhà hoàn thành bài viết vào vở .

? * Hoạt động bổ sung.

Ôn tập toàn bộ kiến thức :

Một phần của tài liệu GIAO AN dạy THEM VAN 8 DIEP (Trang 101 - 107)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(163 trang)
w