V. Doanh nghiệp có tổ chức bộ phận sản xuất kinh doanh phụ
2. Trường hợp có sự phục vụ đáng kể giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh phụ
Với các doanh nghiệp có tổ chức nhiều bộ phận kinh doanh phụ, tuỳ theo đặc điểm công nghệ sản xuất và nhu cầu cung cấp thông tin, yêu cầu quản lý mà doanh nghiệp có thể áp dụng phương pháp tính giá thành theo phương pháp đại số, phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành ban đầu, phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành kế hoạch.
* Phương pháp đại số:
Giá thành đơn vị
=
Tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
Khối lượng sản phẩm lao vụ hoàn
Giá thành đơn vị sản phẩm lao vụ
=
Giá trị sản ẩ đầ
+ Chi phí sản xuất phát
ỳ
Giá trị sản phẩm
ố ỳ
+
Khối lượng sản phẩm lao vụ hoàn thành trong kỳ
Là phương pháp xây dựng và giải các phương trình đại số để tính giá thành sản phẩm, lao vụ của sản xuất - kinh doanh phụ phục vụ cho các đối tượng. Theo phương pháp này, doanh nghiệp phải đợi đến cuối kỳ mới tính được tổng chi phí và kết hợp phương trình để tính và phân bổ chi phí. Phương pháp này sẽ không đòi hỏi phải tính toán phức tạp nếu số bộ phận không nhiều và cung cấp thông tin nhanh chóng cho nhà quản trị. Tuy nhiên, phương pháp này sẽ rất khó thực hiện nếu số phân xưởng nhiều, phương pháp này mang tính chất kỹ thuật tính toán nhiều.
* Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành ban đầu:
Theo phương pháp này, trước hết tính giá thành đơn vị ban đầu của từng bộ phận sản xuất kinh doanh phụ và xác định giá trị phục vụ lẫn nhau giữa chúng. Tiếp theo, xác định giá trị sản phẩm, lao vụ của sản xuất phụ phục vụ cho các bộ phận khác nhau theo giá thành đơn vị mới.
* Phương pháp này phân bổ lẫn nhau theo giá thành kế hoạch:
Trình tự tính giá thành tương tự như phương pháp trên, chỉ khác thay giá thành đơn vị ban đầu bằng giá thành đơn vị kế hoạch để tính giá trị phụ vụ lẫn nhau giữa các phân xưởng sản xuất kinh doanh phụ. Tiếp theo xác định giá trị phục vụ cho các đối tượng khác theo giá thành đơn vị mới.
=
Sản lượng
đầ Giá
thành đơn vị
Tổng chi phí ban đầu
+ Giá trị lao vụ nhận của bộ phận
ả ấ ụ
Giá trị lao vụ phục vụ cho bộ phận sản
xuất phụ kác +
- Sản lượng phục vụ bộ phận sản xuất phụ khác và sản lượng tiêu dùng
ộ ộ ế
PHẦN THỨ TƯ:
MỘT SỐ KIẾN NGHIỆ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
Trong những năm vừa qua, hệ thống chế độ kế toán Việt Nam liên tục được cải tiến và ngày càng hoàn thiện hơn. Điều đó góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế và năng xuật lao động kế toán trong toàn bộ nền kinh tế nói chung và của các doanh nghiệp sản xuất nói riêng. Tuy vậy, thực tế công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam ngoài những ưu điểm nổi bật vẫn còn tồn tại song song một số vấn đề cần được quan tâm và làm rõ.
1- Phương pháp tính thuế.
Chúng ta biết rằng việc áp dụng không đồng bộ hai phương pháp tính thuế giá trị gia tăng (phương thức trực tiếp và phương pháp khấu trừ) sẽ gây khó khăn cho việc kiểm tra thuế và việc tính thuế. Vì vậy nên chăng Bộ Tài chính cần phải có quyết định thống nhất trong việc tính thuế. Nhờ đó các doanh nghiệp không thể lợi dụng cả hai phương pháp để chuộc lại hay lậu thuế. Nếu việc tính thuế được áp dụng theo phương pháp khấu trừ sẽ giúp cho công tác kế toán đơn giản, do đó hiệu quả công việc sẽ tăng lên rất nhiều.
2- Xây dựng hệ thống kế toán chi phí sản xuất linh hoạt.
Kết toán chi sản xuất của nước ta hiện nay áp dụng hệ thống kế toán chi phí thực tế. Theo đó trong kỳ kế toán luôn ghi nhận các chi phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung theo thực tế phát sinh để tập hợp chi phí sản xuất và thời điểm tập hợp chi phí là cuối kỳ. Nó không phù hợp với những doanh nghiệp có sản phẩm sản xuất làm cơ sở để xác định đúng giá bán. Do vậy có ảnh hưởng không nhỏ tới việc
xác định nhanh chi phí và giá thành cho doanh nghiệp. Để khắc phục điều này chúng ta có thể bổ xung thêm hệ thống kế toán chi phí thông dụng và kế toán chi phí định mức vào hệ thống kế toán Việt Nam hiện hành.
Hệ thống kế toán chi phí thông dụng phù hợp với các loại hình doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất ổn định, có mức định mức kinh tế kỹ thuật chính xác và nguồn cung cấp nguyên vật liệu thường xuyên, ít biến động. Đến cuối kỳ kế toán xử lý các khoản biến động chi phí thực tế so vời định mức để tính đúng và đủ giá thành sản phẩm. Hai hệ thống chi phí này đã được một số công ty có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng để hạch toán chi phí sản xuất và tính gái thành sản phẩm với nhân viên thực hiện là người Việt Nam.
3- Về kỳ hạch toán kế toán.
Nền kinh tế hiện nay đang có sự cạnh tranh quyết liệu của các thành phần tham gia kinh doanh và thông tin đã trở thành một công cụ đắc lực cho người quản lý doanh nghiệp. Cạnh tranh đòi hỏi phải có sự nhạy bén và kịp thời trong các quyết định mà trong đó thông tin kế toán ngày càng trở nên hết sức quan trọng đối với tất cả các nhân dân, điều này đòi hỏi các thông tin kế toán phải được cung cấp kịp thời, đầy đủ cả vê số lượng và chất lượng.
Vì lý do trên theo em các doanh nghiệp sản xuất nên hạch toán theo từng tháng để những thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được cung cấp nhanh hơn, giúp cho việc nắm bắt và theo dõi kịp thời kết quả của doanh nghiệp trên thị trường.
4- Phương pháp tính giá thành sản phẩm .
Đối với doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng, đối tượng tính giá thành cần được xác định từng đơn đặt hàng. Sau đó trong mỗi đơn đặt hàng sẽ tính giá thành từng mặt hàng thuộc đơn đặt hàng đó theo phương pháp hệ số. Khi nào đơn đặt hàng sản xuất kết thúc mới tính giá thành .Với những đơn đặt hàng chưa hoàn thành thì toàn bộ chi phí sản xuất đã tập hợp được theo đơn đặt hàng đó đều là chi phí sản xuất dở dang của sản phẩm. Việc xác định lại đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành như vậy rất tiện cho doanh nghiệp trong việc thanh toán từng hợp đồng.
Ngoài ra doanh nghiệp cũng nên sử dụng hệ thống định mức để phân bổ tổng giá thành cho cả đơn đặt hàng. Hệ thống định mức có thể là định mức hao phí về nguyên vật liệu hay định mức về giờ công lao động. Việc sử dụng hệ thống định mức sẽ giúp cho việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm chính xác và thuận tiện trong việc lập kế hoạch hạ giá thành sản phẩm trong kỳ sản xuất tới.
5- Hạch toán chi phí nguyên vật liệu .
Có những doanh nghiệp không thống nhất cách tính giá trị NVL xuất kho trong năm: quý I tính theo phương pháp nhập trước xuất trước với chi phí thấp, quý II chuyển phương pháp nhập sau xuất trước để tăng chi phí ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm. Thực tế cho thấy phân xưởng đã hạch bán không đúng số NVL (mất do cho sản xuất những sản phẩm tồn ở phân xưởng chưa đưa vào dây chuyền sản xuất làm đổi giá thành). Theo em các doanh nghiệp phải thống nhất phương pháp tính giá trị nguyên vật liệu xuất kho trong cả kỳ hạch toán. Bộ phận kế toán phải hạch toán chi tiết TK 152, chi tiết cho từng phân xưởng một cách chính xác để có thể tính được giá trị NVL tồn kho và giá thành sản phẩm chính xác.