Kinh t ế sản xuất cây lương thực

Một phần của tài liệu Bài giảng kinh tế nông nghiệp (Trang 133 - 139)

CHƯƠNG 5: KINH TẾ SẢN XUẤT NGÀNH TRỒNG TRỌT

II. KINH TẾ SẢN XUẤT CÁC TIỂU NGÀNH TRỒNG TRỌT

1. Kinh t ế sản xuất cây lương thực

a. Ý nghĩa kinh tế, tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ lương thực.

Cây lương thực chính là những cây có hạt, có tác dụng nuôi sống con người và gia súc, ở nước ta cây lương thực chính gồm: lúa, ngô, đậu, đỗ trong đó lúa là cây lương thực quan trọng nhất.

Sản xuất lương thực là ngành chủ yếu của sản xuất nông nghiệp, điều quan trọng bậc nhất đảm bảo sự hìng cường về mặt kinh tế của đất nước. Các nhà kinh tế đều có ý kiến thống nhất rằng điều kiện tiên quyết cho sự phát triển là phải tăng cung lương thực cho nền kinh tế quốc dân, bằng việc phát triển sản xuất hoặc nhập khẩu lương thực, điều đó tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia. Vì vậy phát triển mạnh sản xuất lương thực, giải quyết tốt vấn đề lương thực có ý nghĩa kinh tế to lớn đối với nền kinh tế cũng như đối với nông nghiệp.

Lương thực là bộ phận chủ yếu cấu thành trong nguồn thức ăn hàng ngày của con người. Nó thoả mãn nhu cầu về năng lượng cho cơ thể con người với giá rẻ. Nó là loại sản phẩm thiết yếu của đời sống con người và không thể thay thế được.

Sản xuất lương thực là cơ sở của sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế quốc dân khác. Tốc độ phát triển và quan hệ tỷ lệ giữa các ngành sản xuất vật chất trong đó có nông nghiệp, trong chừng mực nhất định phụ thuộc vào sự phát triển và năng suất lao động của ngành sản xuất lương thực.

Giải quyết vấn đề lương thực có tác dụng to lớn đối với sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước. Nó cung cấp lương thực cho dân cư phi nông nghiệp và nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến.

Phát triển sản xuất lương thực có ý nghĩa to lớn đối với việc củng cố về tăng cường khả năng quốc phòng, tăng nguồn dự trữ quốc gia để phòng chống thiên tai.

Trong quá trình tổ chức sản xuất lương thực cần chú ý những đặc điểm sau đây:

Cây lương thực có vị trí quan trọng, vì thế nhiều nước trên thế giới rất coi trọng phát triển cây lương thực, tìm các biện pháp để tăng nhanh năng suất ruộng đất, năng suất lao động trong khu vực sản xuất lương thực, nhằm giải phóng từng phần diện tích và sức lao động ra khỏi khu vực sản xuất lương thực. ở nước ta đến năm 2000, diện tích cây lương thực còn chiếm trên 67,11% tổng diện tích gieo trồng và chiếm tỷ lệ đáng kể lao động xã hội của nông nghiệp. Vì vậy việc nâng cao năng suất ruộng đất, năng suất lao động trong ngành sản xuất lương thực là vấn đề cấp bách và có ý nghĩa to lớn đối với việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Lương thực là nhu cầu cơ bản của cuộc sống hàng ngày của nhân dân, vì thế việc phát triển sản xuất lương thực để nâng cao chỉ tiêu sản lượng lương thực và mức lương thực bình quân đầu người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Sản xuất lương thực ở nước ta ngoài lúa và ngô còn có đậu đỗ các loại cũng là cây lương thực quan trọng.

Lương thực là nhu cầu hàng ngày của nhân dân, điều kiện sản xuất. không khắt khe cho nên ngoài những vùng sản xuất chuyên môn hoá lớn, các địa phương cần bố trí sản xuất ruộng rãi nhằm tận dụng đất đai, tiết kiệm chi phí vận chuyển đáp ứng nhu cầu tại chỗ.

Từ lâu ở nước ta lương thực vẫn là ngành sản xuất chính của nông nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung.

Trước cách mạng tháng tám, đặc trưng nổi bật của sản xuất lương thực nước ta là độc canh sản xuất lúa nước, trình độ kỹ thuật rất thô sơ, năng suất lúa rất thấp 10-13 tạ/ha, diện tích trồng lúa chiếm tới 90% tổng diện tích gieo trồng.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng và Nhà nước có cố gắng lớn thúc đẩy sản xuất lương thực phát triển đáp ứng nhu cầu kháng chiến thắng lợi.

Từ khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, do kéo dài cơ chế kinh tế thời chiến và tư tưởng tự cung tự cấp, sản xuất nông nghiệp noi chung và sản xuất lương thực nói riêng gặp nhiều khó khăn. Thời kỳ 1976-1980 nước ta phải nhập 5,6 triệu tấn lương thực qui gạo, bình quân mỗi năm nhập 1,1 triệu tấn.

Thời kỳ đổi mới kinh tế, từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) nền kinh tế Việt Nam đã khởi sắc, trong đó nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, nổi bật là giải quyết được vấn đề lương thực. Cho đến nay, sau 15 năm đổi mới nông nghiệp nước ta đã giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, biến Việt Nam từ nước thiếu lương thực triền miên thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới. Trong hai năm liền 1998,1999 mỗi năm xuất khẩu gạo với kim ngạch trên 1 tỷ USD.

Trong lương thực sản xuất lúa tăng nhanh cả về diện tích và sản lượng. Nếu năm 1990 diện tích lúa là 6,027 triệu ha thì năm 2000 tăng lên 7,549 triệu ha do khai hoang và tăng vụ. Sản lượng lúa tăng từ 19,2 triệu tấn, năm 1990 lên 32,55 triệu tấn năm 2000 và đang có xu hướng tăng, đó là do diện tích và năng suất lúa đều tăng mà đặc biệt là năng suất lúa tăng từ 32 tạ/ha năm 1990 lên 42,5 tạ/ha năm 2000.

Việc sản xuất màu lương thực có chiều hướng tăng chậm cả về diện tích và sản lượng.

Năm 1990 diện tích ngô là 0,431 triệu ha lên 0,714 triệu ha năm 2000, về sản lượng từ 0,671 triệu tấn năm 1990 lên 1,90 triệu tấn năm 2000.

Công tác chế biến lương thực ở nước ta chưa được quan tâm đúng mức, nhất là việc chế biến màu còn nhiều hạn chế, chất lượng kém, chủng loại nghèo nàn v.v... Việc chế biến gạo đã có nhiều tiến bộ, tuy nhiên so với yêu cầu chế biến nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu của nước ta còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ gạo gẫy 10%, 15% tấm và 25%

tấm còn chiếm tỷ lệ cao. Năm 1999 tỷ lệ gạo 25% tấm còn chiếm 35% và tỷ lệ thóc lẫn trong gạo còn cao, ảnh hưởng đến chất lượng gạo nhất là gạo xuất khẩu.

b. Bố trí sản xuất và cơ cấu sản xuất cây lương thực.

Việc bố trí đúng đắn sản xuất lương thực theo các vùng trong cả nước và việc biến đối cơ cấu sản xuất lương thực phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế của từng vùng từng địa phương là điều kiện quan trọng để tăng cường và nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành sản xuất lương thực.

Sản xuất lương thực ở nước ta được bố trí rộng khắp ở các vùng trong nước. Tuy nhiên do điều kiện tự nhiên, kinh tế và quá trình lịch sử đã hình thành những vùng sản xuất lương thực lớn như đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng.

Tổng diện tích của hai vùng châu thổ lớn nhất cả nước chiếm tới 58% diện tích cây lương thực cả nước năm 1998. Trong đó vùng đồng bằng sông Hồng chiếm 13,7%;

vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm 44,4%. Đây là hai vùng lương thực cung cấp nhiều lương thực hàng hoá cho nền kinh tế quốc dân

Ngoài ra các vùng khác có diện tích lương thực không lớ so với hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, nhưng cũng là nơi sản xuất và đóng góp phần lương thực quan trọng cho nền kinh tế quốc dân.

b1. Bố trí sản xuất lúa.

Lúa là cây lương thực chủ yếu của nước ta, hàng năm từ 1990 đến 1998 chiếm tới trên 85% tổng diện tích cây lương thực và trên dưới 90% giá trị sản lượng lương thực và lúa được bố trí tập trung chủ yếu ở hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Với tổng diện tích lúa của hai vùng này bình quân mỗi năm từ 1995 đến 1998 chiếm 63,33% tổng diện tích lúa cả nước; trong đó đồng bằng sông Hồng bình quân chiếm 14,72%, đồng bằng sông Cửu Long chiếm 49,1%. Đó là hai vùng lúa lớn nhất và có nhiều sản phẩm hàng hoá nhất của cả nước. Ngoài ra lúa còn được bố trí rộng rãi trên khắp các vùng, các địa phương trong cả nước phù hợp với điều kiện đất đai, điều kiện tưới nước, tiêu chuẩn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng lúa gạo hàng ngày của nhân dân.

b2. Bố trí sản xuất ngô.

Ngô là loại cây lương thực thứ hai sau cây lúa năm 1988 diện tích ngô chiếm 41,1 diện tích màu và 31,5% sản lượng màu qui thóc. Từ năm 1994 đến năm 1998 sản xuất ngô phát triển mạnh cả về diện tích và sản lượng.

Diện tích ngô năm 1985 cả nước có 397,3 ngàn ha tăng lên 556,8 ngàn ha năm 1995 và 714,0 ngàn ha năm 2000. Sản lượng ngô cả nước năm 1985 đạt 587,6 ngàn tấn, lên 1,2 triệu tấn năm 1995 và lên 1,9 triệu tấn năm 2000. Sản xuất ngô được bố trí rộng khắp trên tất cả các vùng và các địa phương trong cả nước. Song diện tích được bố trí tập trung nhiều ở hai vùng Đông Bắc và Đông Nam Bộ. Bình quân diện tích hàng năm thời kỳ 1995-1998, vùng Đông Bắc đạt 183,9 ngàn ha chiếm 29,6% diện tích cả nước vùng Đông Nam Bộ đạt 120 ngàn ha chiếm 19,3% diện tích cả nước. Các địa phương có diện tích ngô nhiều nhất từ 30 ngàn ha trở lên là: Hà Giang, Cao Bằng, Lai Châu, Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ An, Đaklak và Đồng Nai.

b3. Bố trí sản xuất đậu đỗ các loại (không kể đậu tương).

Đậu đỗ là cây lương thực có hạt và có chứa nhiều chất dinh dưỡng cao. Đều là cây ngắn ngày có thể bố trí trồng chính hay trồng xen kẽ với các loại cây trồng khác, gần đây hàng năm diện tích đậu đỗ ở nước ta khoảng 20 vạn ha với sản lượng khoảng trên 10 vạn tấn. Đậu đỗ được trồng rộng rãi ở hầu hết các tỉnh, song trồng tập trung nhiều vẫn là các tỉnh: Đồng Nai, An Giang, Đaklak, Nghệ An, Hà Tĩnh, Tây Ninh...

Việc bố trí hợp lý những cây lương thực quí có năng suất cao phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế ở từng vùng cho phép cải thiện cơ cấu cây lương thực và tăng nhanh sản lượng lương thực.

Tập đoàn cây lương thực có hạt ở nước ta có các cây chính: lúa, ngô, đậu các loại, trong đó lúa là chủ yếu. Ngô là cây lương thực đứng thứ 2 sau lúa là nguồn thức ăn chủ yếu và giàu chất dinh dưỡng cho vật nuôi. Đậu đỗ là cây lương thực giàu chất đạm là thức ăn quí cho con người và là nguyên liệu để chế biến ra các loại thực phẩm khác có giá trị. Ngoài các cây lương thực chính trên những năm gần đây cơ cấu cây

lương thực của nước ta còn bao gồm một số cây lương thực khác như: lúa mì, mạch, cao lương...

Việc xác định cơ cấu sản xuất cây lương thực hợp lý, đảm bảo cho nền nông nghiệp phát triển một cách toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn lợi tự nhiên, kinh tế của đất nước. Cơ cấu sản xuất lương thực ở nước ta những năm gần đây còn bất hợp lý và sự chuyển biến tiến bộ còn chậm. Lúa còn chiếm tỷ trọng quá lớn cả về diện tích và sản lượng, màu còn chiếm tỷ trọng ít và có xu hướng giảm trong vài năm gần đây (xem biểu cơ cấu diện tích sản lượng). Điều đó đặc ra sự cần thiết và nhanh chóng biến đổi cơ cấu sản xuất lương thực hợp lý để tạo điều kiện thúc đẩy việc phát triển nhanh một nền nông nghiệp toàn diện có nhiều sản phẩm hàng hoá.

c. Khả năng và biện pháp chủ yếu để đẩy mạnh sản xuất cây lương thực ở nước ta.

Xuất phát từ vị trí, nhiệm vụ đặt ra đối với sản xuất nông nghiệp nước ta nói chung là:

đảm bảo nhu cầu ăn cho xã hội có sự trữ và xuất khẩu ngày càng lớn, vì thế lương thực phải giải quyết toàn diện từ sản xuất, chế biến, phân phối và tiêu dùng, việc giải quyết lương thực của ta không phải chỉ có lúa mà cả màu, không chỉ mở rộng diện tích mà phải đẩy mạnh thâm canh cây lương thực. Khả năng phát triển sản xuất lương thực ở nước ta còn lớn.

Trước hết, là nâng cao năng suất cây lương thực. Điều kiện tự nhiên nước ta bên cạnh những khó khăn lớn, chúng ta cũng có nhiều thuận lợi rất cơ bản để phát triển sản xuất trồng trọt. Năng suất cây lương thực của ta hiện nay còn thấp, và năng suất còn chưa đồng đều giữa các vùng. Tất cả điều đó tạo ra khả năng lớn để thâm canh tăng năng suất cây lương thực.

Thứ hai, khả năng mở rộng diện tích cây lương thực. Việc mở rộng diện tích khai hoang phát triển cây lương thực, ở nước ta không còn nhiều, hiện nay cả nước còn khoảng 7 vạn ha có khả năng khai hoang trồng lúa, tập trung trên 60% ở đồng bằng sông Cửu Long, còn lại ở rải rác các nơi và tất cả diện tích có thể khai hoang đều là

những chỗ khó khăn nhất, đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn. Việc tăng vụ gắn liền với việc thay đổi cơ cấu mùa vụ, tiềm năng còn khá lớn. Hiện nay vòng quay của đất còn thấp, chứng minh tầm quan trọng và tính bức thiết của tăng vụ để mở rộng diện tích gieo trồng.

Cuối cùng, việc tiếp tục hoàn thiện cơ cấu sản xuất lương thực bằng cách tăng tỷ trọng màu lương thực cả về diện tích và sản lượng vì trong cơ cấu màu cần loại bỏ dần những cây màu dài ngày, năng suất thấp thay bằng cây ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt.

Để biến khả năng thành hiện thực nhằm phát triển mạnh sản xuất lương thực, cần phải thực hiện đồng bộ một số biện pháp kinh tế, kỹ thuật thích hợp như: phát triển sản xuất lương thực theo hướng sản xuất hàng hoá với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và tạo cơ chế thuận lợi cho xuất khẩu lương thực; tăng cường đầu tư cho nông nghiệp, vốn đầu tư tập trung đúng mức cho hai vùng lúa hàng hoá lớn là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, coi trọng đầu tư vào không công nghệ sau thu hoạch, chế biến, bảo quản vận chuyển và tiêu thụ; giải quyết tót công tác thủy lợi gắn liền với việc phòng chống bão lụt, đẩy mạnh sản xuất phân bón, sản xuất giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt và làm tốt công tác khuyến nông cho những người sản xuất lương thực. Nghiên cứu tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu gạo bằng cách nâng cao năng lực tiếp thị, nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu để tăng sức cạnh tranh trên thị trường.

Một phần của tài liệu Bài giảng kinh tế nông nghiệp (Trang 133 - 139)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(174 trang)