CHƯƠNG 5: KINH TẾ SẢN XUẤT NGÀNH TRỒNG TRỌT
II. KINH TẾ SẢN XUẤT CÁC TIỂU NGÀNH TRỒNG TRỌT
4. Kinh t ế sản xuất rau
a. Ý nghĩa kinh tế và tình hình sản xuất rau ở nước ta.
Rau có vị trí quan trọng trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân ta. Rau sử dụng làm thức ăn tươi hoặc sử dụng dưới dạng chế biến và làm nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm.
Rau cung cấp cho con người nhiều chất dinh dưỡng cần thiết như: vitamin, chất khoáng axít hữu cơ và nhiều chất bổ khác...
Phát triển sản xuất rau còn có ý nghĩa cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm phát triển và là nguồn xuất khẩu có giá trị.
Sản xuất rau quả nói chung là ngành có hiệu quả và thu nhập khá cao trong ngành trồng trọt. Có khả năng thu hút nhiều lao động và giải quyết việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất ngành trồng trọ theo hướng đa dạng hóa sản phẩm với chất lượng cao.
Với ý nghĩa to lớn trên, rau được phát triển và trở thành một ngành trồng trọt theo hướng đa dạng hoá sản phẩm với chất lượng cao.
Với ý nghĩa to lớn trên, rau được phát triển và trở thành một ngành sản xuất quan trọng không thể thiếu được trong nông nghiệp.
Tuy nhiên việc tổ chức sản xuất rau cần phải lưu ý các đặc điểm sau: Rau cũng giống như cây ăn quả, là loại sản phẩm chưa nhiều nước nên dễ bị hư hỏng. Sản phẩm của rau đòi hỏi phải đảm bảo chất lượng tươi, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của nhân dân thành thị cũng như nông thôn. Là loại sản phẩm có khối lượng lớn, cồng kềnh, khó vận chuyển và lại dễ hư hỏng, vì vậy tổ chức sản xuất và bố trí sản xuất phải hợp lý ðể vừa thuận tiện cho việc thâm canh, vừa thuận tiện cho việc chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm...
Trước cách mạng tháng 8 chưa phát triển, rau chỉ được trồng phân tán manh mún ở các mảnh vườn ở gia đình, mang tính chất tự cung tự cấp. Trong thời kỳ kháng chiến chống pháp và chống mỹ sản xuất rau ở nước ta vẫn chưa phát triển do chiến tranh tàn phá và còn phải tập trung cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Chỉ từ sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, sản xuất rau đã từng bước được phát triển với cơ cấu và chủng loại phong phú bao gồm: rau ăn lá, rau ăn củ, rau gia bị. Diện tích và sản lượng rau ngày càng tăng lên để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu song các nước đặc biệt là Liên Xô cũ.
Diện tích rau cả nước năm 1990 là 249,9 ngàn ha lên 369 ngàn ha năm 1995 và lên 445 ngàn ha năm 2000. Sản lượng rau từ 3,17 triệu tấn rau các loại năm 1990 tăng lên 5,95 triệu tấn năm 2000, tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 6,5%. Sản lượng rau tiêu thụ bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp, năm 1995 đạt 58,1 kg bằng 6%
của thế giới (thế giới 85 kg), năm 2000 tăng lên 76,6kg/người. Việc xuất khẩu rau trước năm 1990 năm cao nhất cũng chỉ đạt 300.000 tấn, bằng 6% sản lượng rau quả cả nước. Từ khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩ Đông Âu tan rã thì việc sản xuất và xuất khẩu rau của nước ta gặp nhiều khó khăn vì chưa có thị trường mới.
Sau một thời gian “lao đao” tìm và thích nghi với thị trường mới, đến nay đã có mặt gần 50 nước và lãnh thổ ở Châu á, Bắc Âu, Tây âu, Mỹ v.v... Nhờ vậy hoạt động sản xuất và xuất khẩu rau nước ta bắt đầu phục hồi, phát triển, với các sản phẩm xuất khẩu tập trug ở dạng tươi và đã qua chế biến: ở dạng tươi, gồm các loại rau như: bắp cải, hành tỏi, khoai tây, rau gia vị, đậu các loại, củ quả... còn rau chế biến chủng loại phong phú hơn bao gồm: sấy khô, đóng hộp, muối chua... xuất khẩu rau quả cả nước năm 1997 đạt 68 triệu USD. Năm 1999 đạt 105 triệu USD và tăng lên 305 triệu USD năm 2001. Việc phát triển sản xuất rau hiện nay cũng đã thu hút được khá nhiều dự án đầu tư nước ngoài với nhiều hình thức sở hữu khác nhau hoặc là nhận gia công sản xuất ví dụ ở huyện Vĩnh Lạc - Vĩnh Phúc nhận gia công trồng dưa chuột cho Nhật Bản...
Tuy nhiên việc tìm kiến thị trường để mở rộng sản xuất rau quả xuất khẩu của nước ta còn rất nhiều khó khăn, do chất lượng sản phẩm còn thấp, bao bì đơn điệu, giá thành sản phẩm chưa cao có cức cạnh tranh, số lượng sản xuất chưa nhiều, công tác tiếp thị còn yếu.
b. Khả năng và biện pháp đẩy mạnh sản xuất rau.
Khả năng và điều kiện tự nhiên, đất đai khí hậu và thời tiết để phát triển sản xuất rau ở nước ta rất thuận lơi bao gồm cả rau nhiệt đới và rau ôn đới v.v... tập đoàn cây rau ở nước ta rất phong phú với nhiều chủng loại khác nhua như rau ăn lá, rau ăn củ, quả và các loại rau gia vị khác. Phương hướng phát triển sản xuất rau của nước ta vừa phải
tiếp tục mở rộng diện tích vừa đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất và nâng cao hơn chất lượng của rau, để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước nhất là những vùng dân cư tập trung và xuất khẩu. Cụ thể là ngành qau quả phấn đấu đến năm 2010 đạt tổng sản lượng rau quả là 20 triệu tấn với mức bình quân đầu người, là 85 kg rau/năm và 65 kg quả/năm, nâng kim ngạch xuất khẩu của ngành lên 1 tỷ USD trong đó rau là 690 triệu USD và quả chiếm 350 triệu USD.
Để thực hiện được phương hướng trên cần thực hiện các biện pháp chủ yếu sau:
- Mở rộng diện tích trồng rau là biện pháp quan trọng để tăng nhanh sản phẩm rau đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, chế biến và xuất khẩu.
- Đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất rau là biện pháp phát triển chủ yếu lâu dài để phát triển sản xuất. Nhờ đẩy mạnh thâm canh một cách khoa học, làm cho năng suất, sản lượng rau tăng nhanh và chất lượng rau ngày càng tốt. Tuy nhiên thâm canh vấn đề đầu tiên là phải giải quyết khâu giống. phải có giống tốt, chất lượng cao v.v... thuỷ lợi và sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật một cách đồng bộ và hợp lý, đảm bảo an toàn chất lượng rau...
- Hoàn thiện cơ cấu sản xuất rau một cách hợp lý và hiệu quả để vừa đáp ứng tốt nhu cầu thị trường và lợi dụng được mức cao nhất về khả năng sản xuất.
Cơ cấu sản xuất rau được xác định theo chủng loại rau: rau lá, rau củ và rau quả và xác định hợp lý cơ cấu mùa vụ sản xuất rau.
- Xây dựng và hoàn thiện các vùng sản xuất rau tập trung ở xung quanh Thành phố, thị xã và các khu công nghiệp và các vùng rau xuất khẩu. Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu rau thường xuyên, kịp thời chất lượng cao cho thành phố, thị xã, khu công nghiệp và chế biến xuất khẩu.
- Tăng cường công tác chế biến, bảo quản vận chuyển và tiêu thụ rau. Đầu tư phát triển mạnh công nghiệp chế biến để tăng giá trị của sản phẩm như: đóng hộp, sấy khô, muối chua...
Đầu tư xây dựng kho chứa, phương tiện vận chuyển và sản xuất bao bì phục vụ tốt cho việc bảo quản và xuất khẩu rau, cũng như việc lưu thông phân phối rau giữa các vùng.
- Xây dựng và hoàn thiện các chính sách kinh tế để khuyến khích phát triển sản xuất rau. Các chính sách kinh tế cần hướng vào việc nâng cao chất lượng toàn diện theo chuẩn quốc tế, hướng vào phát triển sản xuất trái vụ và những sản phẩm có hiệu quả kinh tế cao, nhu cầu ngày càng lớn.
TÓM TẮT CHƯƠNG
1- Ngành trồng trọt là ngành sản xuất chủ yếu của sản xuất nông nghiệp. Việc phát triển ngành trồng trọt có ý nghĩa kinh tế rất to lớn. Là ngành sản xuất và cung lương thực, thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến. Phát triển ngành trồng trọt sẽ đảm bảo nguồn thức ăn dồi dào và vững chắc cho chăn nuôi, và có ảnh hưởng quyết định đến việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo sản xuất hàng hoá ngày càng hiệu quả hơn.
Ngành trồng trọt ở nước ta có nhiều tiềm năng để phát triển được thể hiện trên các mặt như: khả năng mở rộng diện tích, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thuận lợi...
2- Việc xác định cơ cấu ngành trồng trọt hợp lý có ý nghĩa quan trọng để phát triển nhanh sản phẩm hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. ở nước ta cơ cấu ngành trồng trọt đang có sự chuyển biến mạnh mẽ phá thế độc canh lương thực trong đó chủ yếu là lúa nước, song phát triển ngành trồng trọt đa canh với nhiều sản phẩm hàng hoá.
3- Đi liền với việc xác định cơ cấu ngành trồng hợp lý, cần xây dựng các vùng sản xuất chuyên môn hoá những cây trồng chủ yếu như: lúa, ngô, chè, cà phê, dưa... Đặc điểm nổi bật của vùng chuyên môn hoá là khối lượng hàng hoá và tỷ suất hàng hoá cao, sản xuất luôn gắn với thị trường.
4- Song để phát triển nhanh ngành trồng trọt ở nước ta đòi hỏi phải áp dụng đồng bộ một số các giải pháp lớn sau: đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất và chế biến sản phẩm, áp dụng đồng bộ các biện pháp kinh tế - kỹ thuật thâm canh ngành trồng trọt, làm tốt công tác khuyến nông để chuyển giao công nghệ mới cho người sản xuất, hoàn thiện hệ thống tổ chức sản xuất ngành trồng trọt...
5- Ngành trồng trọt bao gồm nhiều tiểu ngành sản xuất khác nhau như: ngành sản xuất lương thực, ngành sản xuất cây công nghiệp, ngành sản xuất cây ăn quả, ngành sản xuất rau... Mỗi tiểu ngành sản xuất trên đều có vai trò và ý nghĩa kinh tế to lớn nhất định đối với nền kinh tế cũng như đối với nông nghiệp và bản thân ngành trồng trọt.
Các tiểu ngành trồng trọt ở nước ta trong những năm vừa qua đã có những bước phát triển đáng ghi nhận, đặc biệt là ngành sản xuất lương thực. Sau 15 năm đổi mới ngành sản xuất lương thực phát triển đã giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, chế biến nước ta từ nước lương thực triền miền thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới từ năm 1999. Bên cạnh ngành sản xuất lương thực thì ngành sản xuất công nghiệp, cây ăn quả, rau cũng có sự phát triển khá cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Nhiều mặt hàng sản phẩm cây công nghiệp, cây ăn quả và rau xuất khẩu và chiếm được vị thế trên thị trường thế giới.
Để tiếp tục đẩy nhanh việc phát triển các tiểu ngành trồng trọt cần phải nắm vững các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật riêng của từng điểm phù hợp với từng ngành đó.
Câu hỏi ôn tập
1- Ý nghĩa kinh tế, khả năng và biện pháp phát triển ngành trồng trọt ở nước ta.
2- Ý nghĩa kinh tế, khả năng và biện pháp phát triển ngành sản xuất cây lương thực ở nước ta.
3- ý nghĩa kinh tế và biện pháp đẩy mạnh phát triển ngành sản xuất cây công nghiệp ở nước ta.
4- ý nghĩa kinh tế và biện pháp đẩy mạnh phát triển ngành sản xuất cây ăn quả và cây rau ở nước ta.