CHƯƠNG 6: KINH TẾ SẢN XUẤT NGÀNH CHĂN NUÔI
II. KINH TẾ SẢN XUẤT CÁC TIỂU NGÀNH CHĂN NUÔI CHỦ YẾU Ở NƯỚC TA
2. Chăn nuôi lợn - ngành chăn nuôi lấy thịt chủ yếu ở nước ta
Chăn nuôi lợn là ngành cung cấp thịt chủ yếu không chỉ ở nước ta mà cả ở nhiều nước trên thế giới. Một đặc điểm quan trọng mang tính ưu việc của chăn nuôi lợn là thời gian chăn thả ngắn, sức tăng trưởng nhanh và chu kỳ tái sản xuất ngắn. Tính bình quân một lợn nái trong một năm có thể đẻ trung bình 2,5-3 lứa, mỗi lứa 8-12 con và có thể tạo ra một khối lượng thịt hơi tăng trọng từ 800-1000 kg đối với giống lợn nội và tới 2000 kg đối với lợn lai ngoại. Mức sản xuất và tăng trưởng cao 5-7 lần so với chăn nuôi bò trong cùng điều kiện nuôi dưỡng. Hơn nữa tỷ trọng thịt sau giết mổ so
với trọng lượng thịt hơi tương đối cao, có thể đạt tới 70-72%, trong lúc đó thịt bò chỉ đạt từ 40-45%.
Bên cạnh đó, lợn là loại vật nuôi tiêu tốn ít thức ăn so với tỷ lệ thể trọng và thức ăn có thể tận dụng từ nhiều nguồn phế phụ hẩm trồng trọt công nghiệp thực phẩm và phụ phẩm trồng trọt công nghiệp thực phẩm và phụ phẩm sinh hoạt. Chính vì vậy trong điều kiện nguồn thức ăn có ít, không ổn định vẫn có thể phát triển chăn nuôi lợn phân tán theo qui mô như từng hộ gia đình.
Đầu tư cơ bản ban đầu cho chăn nuôi lợn ít, chi phí nuôi dưỡng trải đều suốt quá trình sản xuất, chu kỳ sản xuất ngắn nên chăn nuôi lợn có thể đầu tư phát triển ở mọi điều kiện gia đình nông dân.
Chăn nuôi lợn không chỉ là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho tiêu dùng trong nước, mà sản phẩm thịt lợn còn là nguồn thực phẩm xuất khẩu có giá trị. Nhờ đặc tính sinh sản nhiều nên mỗi lứa và nhiều lứa trong một năm, nên hiện nay chăn nuôi lợn nái sinh sản để xuất khẩu lợn sữa đang là mặt hàng xuất khẩu có giá trị được thị trường các nước trong khu vực ưa chuộng. Đối với nhiều vùng nông thôn, và nhất là trong xu thế phát triển nền nông nghiệp hữu cơ sinh thái, chăn nuôi lợn còn góp phần tạo ra nguồn phân bón hữu cơ quan trọng cho phát triển ngành trồng trọt, góp phần cải tạo đất, cải tạo môi trường sinh sống của các vi sinh vật đất.
Với ý nghĩa kinh tế trên, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta đã sớm phát triển ở khắp mọi vùng nông thôn với phương thức chăn nuôi gia đình là chủ yếu. Những năm trước đây, khi chăn nuôi lợn còn mang tính chất tận dụng các phế phụ phẩm của ngành trồng trọt, tận dụng các phụ phẩm trong sinh hoạt của các gia đình, nguồn thức ăn chăn nuôi không ổn định và chưa độc lập thì giống lợn nuôi chủ yếu là lợn nội dễ thích nghi với điều kiện nuôi dưỡng, không đòi hỏi đầu tư nhiều. Khi chăn nuôi lợn chuyển sang phương thức chăn nuôi tập trung và chăn nuôi theo phương thức thâm canh đầu tư lớn để đẩy nhanh hiệu suất tăng trọng thì giống lợn nuôi được thay dần bằng giống các loại lợn lai kinh tế, lai ngoại với đặc tính sinh trưởng nhanh, tiêu tốn
thức ăn cao và chất lượng thức ăn phải ổn định và sử dụng thức ăn tổng hợp chế biến sẵn.
a. Phương hướng phát triển chăn nuôi lợn ở nước ta.
Nước ta có nhiều tiềm năng thích hợp với đặc tính chăn nuôi lợn. Trước hết, sản xuất nông nghiệp ở nhiều vùng nông thôn thường mang tính chất đan xen nhiều loại cây trồng hoa màu lương thực là nguồn cung cấp thức ăn sẵn có tại chỗ cho chăn nuôi lợn.
Thêm vào đó điều kiện khí hậu ở hầu hết các vùng lãnh thổ nông nghiệp nước ta cũng rất phù hợp với đòi hỏi sinh học phát triển của lợn. Do vậy đàn lợn có thể phát triển ở rộng khắp vùng nông thôn nước ta.
Thứ đến đàn lợn ó thể phát triển rộng rãi ở các vùng đồng bằng châu thổ với cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt đa dạng vừa là nơi có thể cung cấp thức ăn tinh cho chăn nuôi từ sản phẩm các loại cây lấy hạt, củ quả sản xuất tại chỗ, đồng thời là nơi sản xuất và cung cấp thường xuyên các loại rau xanh cho chăn nuôi. Đàn lợn cũng cần được phát triển tập trung quanh các khu công nghiệp các trung tâm đô thị và thành phố lớn để có sản phẩm thịt cung cấp kịp thời có chất lượng cho tiêu dùng tại chỗ.
Việc chăn nuôi lợn tập trung phải thực hiện phương thức chăn nuôi công nghiệp là chủ yếu với các nguồn thức ăn tổng hợp chế biến sẵn.
Bên cạnh chăn nuôi lợn tập trung cho các trung tâm đô thị và thành phố lớn, chăn nuôi lợn tập trung còn có thể phát triển ở một số vùng đồng bằng có điều kiện thuận lợi nhằm đáp ứng đủ nhu cầu thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp chế biếnvà sản phẩm xuất khẩu ngày càng nhiều.
b. Biện pháp đẩy mạnh chăn nuôi lợn ở nước ta.
b1. Thay đổi cơ cấu giống.
Trong lịch sử chăn nuôi lợn ở nước ta chủ yếu để tận dụng nguồn thức ăn dư thừa sẵn có đồng thời là nguồn cung cấp phân bón hữu cơ cho trồng trọt. Do vậy các giống lợn địa phương như lợn ỉ, mông cái hoặc lai đại là giống lợn rất thích nghi với phương
thức chăn nuôi này. Phương thức chăn nuôi lợn hiện nay thực hiện phương thức thâm canh với mức đầu tư thức ăn nhiều đòi hỏi giống lợn phải có khả năng tiếp nhận thức ăn cao, mức tăng trọng nhanh và trọng lượng xuất chuồng cao. Nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu đều đòi hỏi sản phẩm thịt có tỷ lệ nạc cao. Do vậy việc lai tạo giống lợn cũng phải chú trọng phát triển đàn lợn hướng nạc, nhất là các vùng chăn nuôi tập trung phục vụ cho các nhà máy chế biến và cung cấp thành phẩm cho các Thành phố. Việc phát triển sản phẩm lợn sữa xuất khẩu đang đặt ra một hướng phát triển mới cho chăn nuôi lợn nái sinh sản để phát triển đàn lợn con. Việc phát triển đàn lợn nái sinh sản vừa phải đáp ứng yêu cầu về khả năng sinh sản cao với số con trên mỗi lừa nhiều và đẻ nhiều lứa trong năm, đồng thời lợn mẹ phải có khả năng thích nghi tốt với các điều kiện thay đổi khí hậu và tránh được bệnh tật.
Để đảm bảo có được giống lợn có chất lượng tốt đáp ứng được các yêu cầu đặt ra trên đây, công tác nghiên cứu, lai tạo, sản xuất con giống cấp I cần được đặc biệt chú ý đầu tư. Việc phát triển các cơ sở sản xuất con giống gốc và lai F1 và lai tạo các giống mới chủ yếu phải được thực hiện tại các cơ sở trạm trại của Nhà nước được trang bị máy móc kỹ thuật hiện đại và đầu tư kinh phí thoả đáng. Việc kinh doanh con giống chỉ có thể thực hiện ở các vùng lai F2để đưa vào sản xuất thương phẩm.
b2. Đảm bảo cơ sở thức ăn chăn nuôi.
Cần xoá bỏ thói quen của người sản xuất từ xa xưa coi chăn nuôi lợn là hoạt động tận dụng thức ăn dư thừa sẵn có. Muốn nâng cao trọng lượng xuất chuồng, nâng cao mức tăng trọng hàng tháng thì phải sử dụng các giống lợn lai ngoại các giống lợn này đều đòi hỏi mức đầu tư thức ăn cao, thức ăn được chế biến với cơ cấu thành phần chất dinh dưỡng cân đối giữa chất bột, chất đạm và các yếu tố vi lượng bổ sung. Muốn vậy, ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi phải được phát triển thành ngành sản xuất độc lập, nguồn thứ ăn tổng hợp qua chế biến công nghiệp phải sẵn có. Bên cạnh nguồn cung cấp thức ăn tổng hợp, thức ăn công nghiệp thì việc qui hoạch vùng sản xuất thức ăn xanh có chất lượng phù hợp cũng cần phải được chú ý phát triển.
b3. Tăng cường công tác thú y, phòng trừ dịch bệnh.
Điều kiện khí hậu nhiệt đới của nước ta vừa tạo điều kiện thuận lợi cho đàn lợn phát triển tăng trọng nhanh song cũng gây ra nhiều loại dịch bệnh cho đàn lợn, nhất là vào các thời kỳ thay đổi mùa khí hậu. Do vậy công tác thú ý, phòng trừ dịch bệnh phải được chú ý thực hiện thường xuyên định kỳ công tác phòng dịch để tập trung điều trị dập tắt mầm bệnh xúc tiến các hoạt động bảo hiểm chăn nuôi lợn để hạn chế các thiệt hại rủi ro cho người sản xuất.