Chăn nuôi gia cầm, ngành chăn nuôi lấy trứng thịt và thịt quan trọng ở nước ta

Một phần của tài liệu Bài giảng kinh tế nông nghiệp (Trang 170 - 174)

CHƯƠNG 6: KINH TẾ SẢN XUẤT NGÀNH CHĂN NUÔI

II. KINH TẾ SẢN XUẤT CÁC TIỂU NGÀNH CHĂN NUÔI CHỦ YẾU Ở NƯỚC TA

3. Chăn nuôi gia cầm, ngành chăn nuôi lấy trứng thịt và thịt quan trọng ở nước ta

a. Ý nghĩa kinh tế, đặc điểm và khả năng phát triển chăn nuôi gia cầm.

Chăn nuôi gia cầm cung cấp cho con người nhiều loại sản phẩm quí có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao. Trước hết, trứng và thịt gia cầm thường chứa nhiều chất dinh dưỡng như prôtít, đạm, chất khoáng, chất vi lượng và nhiều loại chất dinh dưỡng quí mà nhiều loại thịt khác không có được. Các loại lông vũ gia cầm còn là sản phẩm nguyên liệu quí giá cho công nghiệp may mặc và thời trang.

Chăn nuôi gia cầm có những đặc điểm mang tính lợi thế rất cao dễ thích nghi với mọi điều kiện của sản xuất. Gia cầm là loại vật nuôi sớm cho sản phẩm với khả năng sản xuất rất lớn. Một gà đẻ trong một năm có thể cho 150-180 trứng, nếu đem ấp nở và tiếp tục nuôi thành gà thịt có thể tạo ra khoảng 100 kg thịt hơi trong khu nuôi một bò mẹ 220 kg sau một năm cũng chỉ có thể tạo ra một bê con với trọng lượng khoảng 100 kg. Chăn nuôi gia cầm yêu cầu đầu tư ban đầu không lớn, song tốc độ quay vòng nhanh, chu kỳ sản xuất ngắn. Gia cầm là loại vật nuôi hoàn toàn có thể tự kiếm sống bằng các nguồn thức ăn sẵn có trong tự nhiên do vậy đầu tư cho chăn nuôi gia cầm chỉ theo phương thức tự nhiên cần đầu tư giống ban đầu mà không cần chi phí thường xuyên trong quá trình sản xuất. Thời gian sản xuất trong chăn nuôi gia cầm là ngắn nhất, hiện nay chỉ sau 60 ngày chăm sóc sản phẩm đã cho thu hoạch. Chính nhờ những ưu thế trên, nên chăn nuôi gia cầm phát triển rất sớm và rộng rãi, phổ biến đối với mọi gia đình ở nông thôn. Trước đây, chăn nuôi gia cầm chủ yếu thực hiện theo

phương thức chăn thả tự nhiên để gia cầm tự kiếm các nguồn thức ăn sẵn có trong tự nhiên. Phương thức này có ưu điểm về chất lượng sản phẩm cao, song thời gian sản xuất kéo dài tốc độ tăng trưởng chậm. Ngày nay, việc đưa phương thức chăn nuôi công nghiệp và công nghiệp gia cầm đã tạo ra sự thay đổi vượt bật về khả năng sản xuất cả về tốc độ tăng trọng nhanh và rút ngắn thời gian sản xuất. Tuy nhiên,chất lượng sản phẩm có sự khác biệt so với chăn thả tự nhiên.

b. Phương hướng phát triển chăn nuôi gia cầm ở nước ta.

Nước ta nhất là các vùng đồng bằng châu thổ có nhiều diện tích mặt nước, sông hồ là nguồn cung cấp thức ăn sẵn có và có giá trị cho phát triển chăn nuôi vịt và ngan theo phương thức kết hợp với chăn thả tự nhiên tại các vùng các giống li có sức tăng trưởng nhanh thời gian sản xuất ngắn, trọng lượng cao. Thời gian phát triển chăn thả cũng phải tính toán lựa chọn và thời kỳ có sẵn nguồn thức ăn, điều kiện thời tiết khí hậu thuận lợi phù hợp với phương thức sản xuất chăn thả như vào vụ thu hoach lúa đông xuân và chuẩn bi sản xuất vụ hè thu. Đối với đàn gia cầm đẩy mạnh phát triển chăn nuôi các giống gà mới có năng suất cao, tốc độ tăng trọng nhanh thời gian sản xuất ngắn. Một mặt tiếp tục đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo phương thức công nghiệp tập trung tại các vùng ven trung tâm đô thị thành phố, và các khu đông dân mở rộng hình thức chăn nuôi công nghiệp thả vườn để cung cấp sản phẩm tiêu dùng tại chỗ. Mặt khác, cần đẩy mạnh hình thức chăn nuôi thâm canh kết hợp chăn thả tự nhiên trên cơ sở phát triển các giống gà vừa thích ứng với phương thức chăn nuôi thâm canh theo phương thức công nghiệp, vừa thích ứng với điều kiện chăn thả để nâng cao chất lượng sản phẩm mang tính tự nhiên.

Phương thức này chú trọng phát triển chủ yếu ở các vùng trung du, đồi núi, các vùng đồng bằng có điều kiện địa bàn chăn thả.

c. Những biện pháp chủ yếu đẩy mạnh chăn nuôi gia cầm ở nước ta.

c1. Giải quyết vấn đề giống gia cầm.

Một mặt cần tăng cường các hoạt động nghiên cứu, lai tạo các giống lúa gia cầm nhập ngoại có năng suất, chất lượng cao và thời gia sản xuất ngắn. Công việc này phải được thực hiện tại các trung tâm nghiên cứu và nhân giống tập trung của Nhà nước. Mở rộng hệ thống các trạm trại nhân giống và cung cấp giống gia cầm thương phẩm tại các vùng dân cư để cung cấp giống gia cầm cho tất cả các hoạt động chăn nuôi trong vùng, tiến tới thay thế hoàn toàn phương thức nhân giống theo phương thức tự nhiên.

c2. Giải quyết vững chắc vấn đề thức ăn.

Dù thực hiện phương thức chăn nuôi nhốt tại chỗ theo phương thức công nghiệp hay nuôi chăn thả kết hợp thì nguồn thức ăn tổng hợp chế biến sẵn với đầy đủ các yếu tố thành phần dinh dưỡng vẫn là nguồn cung cấp thức ăn chủ yếu cho chăn nuôi gia cầm.

Do vậy một mặt cần đẩy mạnh phát triển hệ thống công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, mặt khác cần đẩy mạnh các hoạt động trồng trọt lấy nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thức ăn.

c3. Đầu tư xây dựng, trang bị các phương tiện vật chất như chuồng trại phù hợp với phương thức chăn nuôi công nghiệp.

Khu vực chuồng trại chăn nuôi cần được qui hoạch phát triển độc lập để hạn chế điều kiện truyền dịch đồng thời thuận tiện cho việc giữ gìn vệ sinh môi trường.

c4. Tăng cường công tác thú y phòng trừ dịch bệnh và đẩy mạnh các hoạt động khuyến nông để chuyển giao kiến thức kỹ thuật sản xuất, kỹ thuật phòng trừ dịch bệnh đến từng người chăn nuôi.

TÓM TẮT CHƯƠNG

1- Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp,chăn nuôi cung cấp nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao. Một xu hướng tiêu dùng có tính qui luật là khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu tiêu dùng về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên cả về số lượng và chủng loại. Chăn nuôi còn là ngành cung cấp nhiều sản phẩm làm nguyên liệu quí cho công nghiệp chế biến. Phát triển chăn nuôi còn có mối quan hệ khăng khít thúc đẩy phát triển ngành trồng trọt, tạo nên một nền nông nghiệp cân đối bền vững.

2- Chăn nuôi là ngành sản xuất có đối tượng tác động là cơ thể sống, đòi hỏi phải có đầu tư duy trì thường xuyên. Chăn nuôi có thể phát triển do động phân tán theo phương thức tự nhiên, song cũng có thể phát triển tập trung tĩnh tại theo phương thức công nghiệp. sản phẩm của ngành chăn nuôi rất đa dạng. Có sản phẩm chính và sản phẩm phụ, có giá trị kinh tế cao.

3- Thức ăn là nguồn nguyên liệu cơ bản thường xuyên quyết định tính chất ngành chăn nuôi thức ăn chăn nuôi, có thể hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: thức ăn tự nhiên, thức ăn từ sản phẩm ngành trồng trọt và thức ăn chế biến tương hợp theo phương thức công nghiệp.

4- Ở nước ta, ngành chăn nuôi đang phát triển mạnh trở thành một ngành sản xuất chính. Ngành chăn nuôi đang chuyển mạnh từ phát triển chăn nuôi tự nhiên với mục đích lấy sức kéo chuyển sang hướng chăn nuôi công nghiệp thâm cạnh với mục tiêu lấy thịt - trứng - sữa.

5- Chăn nuôi trâu bò là ngành chăn nuôi có nhiều tiềm năng thế mạnh để phát triển cả chăn nuôi theo phương thức chăn thả tự nhiên, lấy thịt cũng như chăn nuôi công nghiệp tập trung để lấy thịt và sữa. Chăn nuôi lợn là ngành chăn nuôi mang lại nhiều lợi ích, có truyền thống phát triển từ lâu và có nhiều tiềm năng phát triển mạnh ở hầu hết các vùng nông thôn nước ta trên cơ sở sử dụng tổng hợp các nguồn thức ăn từ sản

Một phần của tài liệu Bài giảng kinh tế nông nghiệp (Trang 170 - 174)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(174 trang)