VỊ, PHONG TỤC TRONG CHU KỲ ĐỜI NGƯỜI
3. Nhà gái “tiễn chân” con gái (pa-nua, đem theo cơm, rượu, vải tặng thông gia)
Theo tục cũ, trong 3 tháng đầu, đôi vợ chồng mới cưới được ăn cơm nấu riêng vào nồi nhỏ, cơm tẻ, không ghế độn
và đầy tận miệng nồi. Đó cũng là thời kỳ họ tránh ăn xôi nếp và cháo. Trong một năm đầu, họ không ăn thịt gà rừng, hoang, chồn bay, sơn đương, chó, trâu, bò, lợn to, cá thì chỉ ăn cá iiêng; không ăn bí, bầu (vì cho rằng bầu bí dễ bị hỏng), mía giống to (giéng adudc và giống ađung - hai loại mía dùng cúng ma người chết xấu), chuối tiêu (chuối awương - vì tin ma chuối này mạnh hơn các ma chuối khác), cũng kiêng ăn mật ong ruồi (loại ong hay bu bám tấn công người).
Sau lễ pa-dum hoặc sau đấm cưới từ vài ba hôm cho đến khoảng một tuần hoặc thậm chí nửa năm sau, nhà trai (gồm bố mẹ chồng và một số người khác, cả cô dâu chú rể cùng đi) đến nhà gái để tiến hành lễ thức :ơ-mơng cơ-híng, hay rắp ta-pêh, hay cha-nót bloo. Ho dem theo mot con lợn cùng với con dao, 6 cái bát, 6 cái đĩa, còn ché và chiêng mỗi thứ một cái. Lễ thức này có hàm ý như “cắt hộ khẩu”
đối với cô đâu và đánh dấu rằng đôi vợ chồng trẻ có thể hình thành một “bếp” riêng, một gia đình riêng!?, Con lợn d6 (a-o6c hrléé) nha gai lam thit dé cúng báo tổ tiên về việc con đã đi lấy chồng. Việc nhà trai thuc hién nghi thitc lam phép bằng cách vừa bôi tiết lợn lên trán từng người nhà gái vừa cầu khấn là có ý báo với trời đất cùng các thần linh về quan hệ thông gia đã được xác lập suôn sẻ, giữa hai gia đình không còn khúc mắc, cách trở gì nữa. Cô dâu vứt con dao vào bếp tro, cầu chúc cho bố mẹ mình ở lại khỏe mạnh,
1. Vùng thấp thường gọi là rấp rơ-péh, vùng giữa và vùng cao - cha-nót bloo.
2. Cùng với lễ hiến sinh con lợn trong lễ thức này, zđp cũng có nghĩa là đắp bếp mới cho đôi vợ chồng.
còn mình đi làm dâu nhà chồng (vì thế lễ thức này còn được gọi là zơ-bur abooh: zo-bur = dao, abooh = tro bếp, hoặc có người diễn đạt là “chọc bếp”, Hai bên hát lý, nói lý với nhau vui vẻ... Có thể sau một vài ngày, những người nhà trai mới trở về.
Khi tổ chức nghi lễ vừa nói trên, thường cũng là khi nhà trai đặt vấn đề sẽ tổ chức lễ đâm trâu cho nhà gái, gọi là lễ prđáh. Một khi chưa tổ chức lễ đâm trâu này, chàng rể và nhà trai còn chưa yên tâm, còn mắc nợ nhà gái, và nhà gái còn trông đợi nhà trai tổ chức cho mình lễ prđái. Thậm chí trong thời gian đó nếu nhà gái xảy ra ốm đau hoạn nạn, người ta dễ quy kết do nhà trai chưa làm lễ prđáh nên thần linh gây sự như vậy, và nhà gái có quyền đòi hỏi được nhà trai thực hiện nghỉ lễ quan trọng này cho mình”), Trước kia, cho đến tân những năm 1950-1960, có trường
hợp chàng rể nghèo quá, đành phải làm lễ đâm trâu cho nhà gái theo kiểu hình thức (rắc co-rvar). Anh ta lấy vỏ cây rừng cuộn lại làm hình con trâu, mua đuôi, mũi và 4 chân trâu thật của một đám cúng nào đó về lắp vào. Lễ thức diễn ra cũng ở bên cạnh nhà của bố mẹ vợ, cũng có cột lễ buộc trâu, cũng có gõ chiêng trống cùng vũ điệu tập thể theo tập tục lễ đâm trâu.
1. Người Cơ-tu ở vùng thấp còn gọi lễ này là cho-ta-booh. ở vùng cao là rấp tq-jĐể.
2. Con trâu này là íở-r( pd-Hoi. Nếu về sau người con gái chết sớm hoặc bỏ chồng. con trâu trở thành món nợ. khiến nhà gái phải gá tiếp con cho đẳng trai. Món nợ đó tiếng Co-tu goi lk pa-noi pa-néc t'rpin.
Cuối cùng, sau vài ba năm, nhà trai, mà chủ yếu là chàng rể, lại đem đến nhà gái một con lợn to cỡ 4-5 gang để làm lễ pứ-rơ-dớt đỏc túh (đỏc túh = "sữa", pơ-rơ-dớt = "chày hết, cạn”), với ý tỏ lòng biết ơn cha mẹ cô gái đã sinh thành
và nuôi nấng nên cô ta để thành con dâu nhà mình/vợ minh”, Néu khong thuc hiện được nghi lễ cuối cùng này trong hôn nhân, chàng rể có thể bị coi là kẻ vô ơn và nhà
trai mang tiếng không trọn nghĩa tình với thông gia. Nhà gái bao giờ cũng mong muốn bên thông gia dành cho mình đầy đủ các lễ thức theo phong tục.
(Một cuộc hôn nhân ở thôn Prning xã Lãng tháng 7/2004: Đây là cuộc hôn nhân giữa con trai cô với con gái cậu, cả hai đều là học sinh trường dân tộc nội trú huyện
Đông Giang (chàng trai 21 tuổi, học lớp 9, cô gái 17 tuổi,
học lớp 7). Họ được cha mẹ gợi ý từ 2 năm trước và sau đó đã đồng ý lấy nhau. Ngày 8/7, để tiến hành lễ hỏi, nhà trai đưa tới con lợn 4 gang (aooc trơ-móh: “lợn hỏi”) và trao cho nhà gái một số của cải (một thanh la, một ché, một chuỗi vòng cổ 10 hạt mã não, 10 cái bát "đời mới” và một đôi chiếu cói). Bố mẹ chàng trai đã già lại bị ốm, mà đường xa, nên không đi được, vì thế đoàn nhà trai gồm có vợ chồng người em trai ông ta, 2 con rể, một con dâu và một con gái ông ta, ông già làng, ông phó trưởng thôn và chàng trai “đương sự” kia. Ngày cưới được ấn định là ngày ! 8/7.
1. Có người giải thích lễ này được thực hiện khi con đâu đã “cạn sữa”, tức là thôi sinh con.
Hôm sau, nhà gái đến nhà trai làm lễ pa-chô rơ-vai
(pa-chô = "gọi lại", rơ-vai = "hồn người"), với lễ vật là một ché rượu cần, một con gà và một chiếc váy. LỄ này ngụ ý khẳng định lại việc gả con gái của họ, cầu chúc mọi sự suôn sẻ, cho đôi trẻ được hạnh phúc. Họ cũng thông báo sẽ có khoảng 100 khách nhà gái đến nhà trai dự đám cưới.
Ngày 15, người của nhà gái đến nhà trai “tiền trạm”.
Ngày 18, dám cưới tổ chức linh đình, mổ thịt 3 con lợn
to. Nhà gái đưa cô dâu tới giao cho nhà trai, đồng thời đưa cho nhà trai cá, gà, váy, vải, rượu...; còn nhà trai đưa cho nhà gái thịt lợn, thịt thú rừng, chiêng, ché, vòng cườm... như đã thỏa thuận hôm ăn hỏi.
Trong điều kiện kính tế của người Cơ-tu, chỉ phí cho đám cưới là khoản lớn. Ví dụ khi ông Cơ-lâu Nâm ở thôn Prning ga con gai nam 1996, nhà trai dẫn cưới một con trâu to cỡ 9 gang, một con lợn 5 gang, một chiếc ché cổ, một cái chiêng đời mới, hơn một chục chuỗi vòng cườm, một chuỗi vòng mã não, ngoài ra còn tặng cây giáo, chiếc rìu, cái nỏ, con dao quấm và con đao nhọn cỡ lớn nữa”; còn nhà ông đưa đến nhà trai 60 ống cá, 60 con gà, 40 con vịt, 30 ché rượu cần, 50 ang gạo nếp và 6 tấm vải cỡ lớn (bhoong, mỗi tấm dài 3 sải tay, khoảng 4,50 m, rộng khoảng 1,40 m, đủ may 6 chiếc váy).
1. Đó là những vật dụng đã dùng khi đâm trâu và thịt lợn trong lễ cưới: giáo
đâm trâu, rìu chặt xương, đao nhọn thái thịt, dao quam bam thịt, nó bán làm phép lên con chim gỗ trên đỉnh cột lễ buộc trâu.
Những đồ sính lễ của nhà trai được người Cơ-tu gọi chung là /áp nha:, trong đó /ấp chỉ những thứ có giá trị lớn như trâu bd, chiéng ché, nhar chỉ những thứ nhỏ hơn như bát đĩa, vòng trang sức.... Trong lễ vật đám cưới, người ta chia ra có “đồ khô” (goj), như: chiêng, ché, bát, đĩa, vòng cườm..., và “đồ nước” (đác), như: trâu, lợn, gà, cá... Thời kỳ kháng chiến giải phóng miền Nam và những nãm đầu sau giải phóng, do hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn nên đôi bên thông cảm với nhau, có khi lễ vật cưới hỏi chỉ cần con lợn nhỏ, con gà, ang muối là được. Đến nay, việc thách cưới ở nhiều nơi đã giảm, thường nhà gái không đòi hỏi nhiều của cải nữa, thậm chí để cho đằng trai tự quyết định lễ vật.
Sự khác nhau giữa nhà giàu và nhà nghèo không chỉ qua số lượng lễ vật, mà còn ở chỗ nhà giàu thì có đồ cổ, giá
trị hơn, còn nhà nghèo thì đồ đời mới, rẻ hơn. Tuy cả nhà trai và nhà gái đều cố gắng có nhiều lễ vật cho nhau, để lấy đó làm hãnh diện, nhất là hãnh diện vì thông gia của mình kha gia, hao phóng, nhưng thông thường lễ vật của nhà trai phải lớn hơn, giá trị hơn. Cũng có khi, vì cần đáp ứng yêu cầu của nhau, trong lễ vật có cả hiện vật đặc biệt, không phải là thứ phổ biến. Trường hợp chiếc rìu đá của gia đình bà Ajây ở thôn Arớ xã Lăng là một ví dụ: Nguyên chiếc rìu này là của gia đình ông Clúh ở xã Ating, tình cờ kiếm được do một lần sét đánh, nên được coi là bùa phù hộ làm ăn may mắn. Trước đây bốn đời, nhân địp hai gia đình trở thành thông gia với nhau, chiếc rìu đã trở thành một lễ vật cưới và thuộc về gia đình bà Ajây từ đó.
Liên quan đến việc hôn nhân, tập tục phân biệt rạch ròi về thức ăn giữa bên trai và bên gái là một đặc điểm nổi bật trong văn hóa cổ truyền Cơ-tu. Có thể nói, đây là một hình
thức quy ước xã hội đặc thù trong lĩnh vực quan hệ hôn nhân; nó mang ý nghĩa biểu tượng để tạo nên sự khác biệt đến mức tách bạch giữa đôi bên: nhà trai và nhà gái. Theo đú, thực phẩm dựng làm thức ọn và lễ vật của nhà trai đành cho nhà gái luôn luôn phải là những con vật 4 chân (trâu, lợn, sóc, chuột...), cơm tẻ, rượu thì phải là rượu £à-vạcU) hay rượu cất; còn của nhà gái dành cho nhà trai là những con vật 2 chân (chim, gia cẩm), con vật sống dưới nước (cá, ếch), con vật không chân (nhộng ong, rắn), cơm nếp/gạo nếp, rượu cần. Tuy nhiên, người ta kiêng kị việc cho nhau hay mời nhau thịt đúi/cu lúi, kỳ nhông, rấn, gà rừng và chim rỉ; bởi lẽ người Cơ-tu xưa nay coi rấn là biểu thị sự bất hòa, đúi biểu thị sự chia ly, kỳ nhông biểu thị sự vô trách nhiệm?” (người ta thường nhắc nhở trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái bằng câu “đừng đẻ con như kỳ nhong” (6 to- vdih ca-con conh ca-z6ng), còn gà rừng - sự đơn độc, chim rỉ - hay mất đoàn kết. Một điểm mới là ngày nay, trong phạm vi thực phẩm mang tính lễ tục của nhà trai và nhà gái
1. Tên gọi chung để chỉ rượu chế từ nước lấy trong cây tả-vạc, cây rà-đín và dot may adwong (xem phần viết về hái lượm).
2. Đó là do họ liên tưởng: rắn không sống đôi hay đàn. chỉ ở riêng từng con, kỳ nhông đẻ trứng xong thì vùi cát rồi bò đi. còn đúi thường đẻ 2 con nhưng sau đó mỗi con di đào hang ở riêng... Thường ngày người Cơ-tu cũng kiêng cho hoặc mời nhau ân thịt các con vật này, nhưng án trong nội bộ gia đình thì được.
như vừa nói trên, người ta có thể sử dụng cả cá biển và thịt mưa trên thị trường.
Không chỉ về thực phẩm, mà những thứ được coi là của
cải trong lễ vật của đôi bên cũng có sự phân biệt: Nhà trai đưa cho nhà gái chiêng cổng, ché, bát đĩa, vòng chuỗi cườm và mã não; nhà gái đưa cho nhà trai đồ vải. Sự phân biệt còn thể hiện cả ở những chiếc gùi dùng làm tặng vật: Bên trai tặng bên gái gùi thân tròn được coi là loại gùi nữ giới sử dụng là chính; bên gái tặng bên trai gùi 3 ngăn là loại gùi của nam giới. Ngày nay, lễ vật cưới có thể bao gồm thêm cả một số loại đồ vật của xã hội đương thời, như: cassettc, đồng hồ, ti-vi..., thậm chí có trường hợp nhà trai đưa cho nhà gái chiếc xe máy.
Người Cơ-tu tuân thủ một cách nghiêm ngặt tập tục phân biệt nói trên giữa đằng trai và đằng gái. Việc lẫn lộn là điều tối kị, thậm chí đễ bị hiểu đó là sự xúc phạm, không tôn trọng nhau... Sự phân biệt này thể hiện không chỉ trong ăn uống ở đám cưới cũng như lễ vật đám cưới, mà còn trong cả quan hệ thông gia với nhau lâu đài sau đó.
Trong xã hội Cơ-tu, thông gia rất được vị nể, quan hệ thông gia rất được coi trọng, cả đôi bên đều có ý thức củng cố bền chặt và tiếp tục phát triển mối quan hệ đó. Họ qua lại thăm nhau (/¿ớ rơ-moi) mỗi năm chí ít cũng một lần, thường vào sau vụ thu hoạch và sau khi làm cỏ lúa xong.
Nhà gái thường năng đến thăm nhà trai hơn, càng năng đến càng được nhà trai quý trọng và thân thiện hơn; bố mẹ vợ
được con rể kính trọng đặc biệt, người nhà gái được người nhà trai vì nể đặc biệt. Điều đáng chú ý nữa là, phạm vì của mối quan hệ đó được mở rộng sang cả những người trong tộc họ của mỗi gia đình thông gia.
Việc đi thăm được nhắn tin trước để thông gia chuẩn bị đón tiếp. Họ đi thành đoàn, mang theo quà, và khi ra về luôn được thông gia tặng lại quà. Những quà đó, bất kể là đồ ăn thức uống bay đồ vật, cũng đều bị chi phối bởi tập tục phân biệt đằng trai với đằng gái như đã nói trên đây. Chẳng
hạn, nhà gái mang biếu con gà, vài ống gạo nếp hay ché rượu cần, nhà trai mổ lợn đãi và tặng quà, có thể là cái chiêng, chuỗi cườm... Nếu giàu có và thịnh tình, có khi nhà
trai tổ chức đâm trâu thết khách nhà gái. Trong trường hợp
này, đại diện nhà trai chỉ đâm nhát đầu tiên sau nghỉ thức cúng, rồi người nhà gái đâm tiếp và mổ thịt, thường chỉ sử dụng một đùi (1/4 con trâu) cho bữa 4n uống liên hoan tại nhà trai, còn lại thì nhà gái mang về va chia cho dan lang mình. Như vậy, con trâu đó thuộc về nhà gái và trở thành một món nợ của cải để dẫn đến việc trong tương lai họ phải cung cấp tiếp người về làm dâu nhà trai; hay nói cách khác, điều đó tạo tiền để để nối dài, mở rộng thêm mối quan hệ hôn nhân giữa đôi bên, phát triển và củng cố mối liên kết thông gia thêm bền chặt, mà như đã nói, theo nếp cổ truyền
thì người Cơ-tu thích làm như thế.
Su chénh mang việc thăm hỏi trong thời gian dài khác thường có thể sẽ là nguyên nhân khiến trời đất gây ốm đau bệnh tật cho gia đình thông gia (cơ-rêê crêê côn). Trong
trường hợp này, bên bị coi là có lỗi phải thực hiện việc đến thăm lại, đồng thời nhân đó đôi bên tổ chức lễ cúng chung, với lễ vật mang tính biểu tượng của mỗi bên (đã giới thiệu ở phần viết về phong tục cưới xin). Họ khấn báo với trời đất rằng họ đã tới thăm nhau, quan tâm đến nhau, hãy cho người ốm khỏi bệnh và đừng làm hại họ nữa... Nếu diễn đạt theo cách hiểu thông thường của chúng ta hiện nay, nghĩa là: họ đã biết lỗi lầm, đã sửa chữa khuyết điểm, cầu mong thần linh tha thứ cho họ và chấm đứt việc gây ốm đau cho gia đỡnh đang bị cứ-rờờ crờờ cụn.
Cùng với sự phát triển các mắt xích quan hệ kết hôn, không chỉ có việc trao đổi của cải như đã nói trên, mà còn có sự di chuyển tài sản giữa các gia đình, mà trong không ít trường hợp, đến một lúc nào đó, nó tạo thành một dây chuyển khép kín. Khi đồ vật trở về với người chủ cũ bằng cách đó, người Cơ-tu coi là cực kỳ may mắn, là được “lộc”
(cơ-rloóc). Sau đây là vài ví dụ cụ thể: