VỊ, PHONG TỤC TRONG CHU KỲ ĐỜI NGƯỜI
2. Chiếc công của nhà ông Cơ-lâu Nâm, cũng ở thôn Prning
- Không rõ xuất xứ và sự lưu chuyển xa xưa ra sao, đến khoảng giữa những năm 1960 thì nó từ xã Ba (Đông Giang) được chuyển về gia đình ông Ploong Oóch ở làng Tà-ri (xã Lăng), khi ông này gả con gái cho một gia đình ở dưới đó và họ dùng nó làm đồ sính lễ.
- Năm 1969, ông Cơ-lâu Nam ga con gái của người anh trai ông về làm đâu nhà ông Oóch (đứa cháu gái đó mồ côi, vợ chồng ông Nâm phải cưu mang và gả chồng cho). Do đó, chiếc cổng của nhà ông Oóch đã chuyển sang nhà ông Nâm.
- Năm 1983, ông Nâm nhờ 6 con trai của ông Cơ-lâu Nhát ở cùng thôn chặt củi giúp, rồi trả công cho họ bằng chiếc cồng này và chiếc nồi đồng nữa. Từ đó, công chuyển sang nhà ông Nhát.
- Nam 1996, con trai ông Nhát lấy con gái ông Bling Drung ở thôn Nai cùng xã. Chiếc cổng từ nhà ông Nhát được di chuyển đến nhà ông Drung.
- Năm 1997, con trai ông Drung lấy con gái ông Alang Rú ở thôn Prning. Chiếc công lại trở về thôn Prning, thuộc về gia đình ông Rú.
- Năm 1999, vợ chồng ông Rú tặng cổng cho nhà ông Nam, nhân dịp tạ ơn gia đình ông Nâm đã giúp đỡ vợ ông Rú suốt nhiều năm thời bà còn chưa đi lấy chồng (bà cũng là con gái của anh trai ông Nâm, mồ côi cha mẹ từ sớm,
nên đã dựa vào gia đình ông Nâm rất nhiều). Do vậy, chiếc công lại về tay ông Nâm sau 30 năm hành trình, cũng qua ba gia đình khác.
Có thể thể hiện chu trình di chuyển chiếc cổng bằng sơ đồ như sau:
Xó Ba 1960 ệ| Ploong 1969 „| Cơ-lõu 1983 Cơ-lõu
Oóch “| Nam “| Nhat
1999 1996
Aling 1997 Bling
RG | Drung
Ngoài những hình thức kết hôn thông thường. từ khoảng giữa thế kỷ XX về trước, một số nhà giàu còn lấy vợ cho con thco lối “cướp” cô gái mà họ muốn (coóp ca-điêiJP). Thường thì phải “cướp” vì cô gái tuy chưa qua lễ cưới nhưng đã thuộc về một gia đình nào đó rồi - do cha mẹ cô ta đã nhận hoặc nợ của cải của họ, theo tập tục như đã nói đến ở phần viết về hôn nhân. Theo kể lại. thực ra phần lớn các trường hợp “cướp vợ” xảy ra khi chàng trai cô gái đã ưng thuận nhau. việc nhà trai “cướp” là để tránh cho cô ta và gia đình cô ta khỏi bị gây sự và bắt phạt bởi một nhà trai khác đã ràng
1. Vụ cướp vợ cưới cùng mà người ta còn biết được là năm 962. xảy ra giữa bên trai ở làng Cha-nóc (xã Cơm) và bên sái ở làng Abul thudc dat Lao.
buộc cô ta từ trước. Tuy vậy. cũng có những trường hợp
“cướp vợ” hoàn toàn chỉ do một phía - nhà trai.
Sau khi điều tra cẩn thận, biết được đường đi lối lại, nếp sinh hoạt hằng ngày và chỗ hay lui tới của cô gái, nhà trai tổ chức một nhóm thanh niên khoẻ mạnh, nhanh nhẹn di phục kích để bắt cóc cô ta. Cô được nhà trai đối xử rất tử tế và ngủ cùng các cô gái trẻ trong làng. Trong khi đó, vài Ông già có uy tín cao và giỏi nói năng đại diện cho nhà trai tới nhà gái điều đình xin được nộp phạt, đồng thời xin được trả của cải cho nhà trai nào đã ký thác từ trước để sẽ cưới cô gái. Ba hôm sau, cô ta được nhà trai đưa về và đoàn khách nhà trai được đón tiếp nồng hậu. Đám cưới thường diễn ra sau đó một vài tháng. Trường hợp này, nhà gái thách cưới nặng, thậm chí gấp đôi so với thông lệ. Nếu cô gái được coi là đã thuộc về một nhà trai nào đó, đương nhiên gia đình cướp cô ta phải bồi hoàn tất cả số của cải mà nhà trai kia đã đưa cho cha mẹ cô. Thêm vào đó, nhà trai còn phải nộp cho làng bên gái một con trâu. Nếu chẳng may trong làng bên gái có người chết trước khi cưới thì nhà trai phải chịu phạt một con trâu nữa để họ làm lễ cúng giải hạn, vì tin rằng thần linh nổi giận về vụ bắt vợ nên đã sây ra chết chóc. Tuy vậy, trước cộng đồng, cả nhà trai và nhà gái đều hãnh điện về việc lấy vợ gả chồng theo kiểu “cướp” như thế, đặc biệt sự giàu có và thanh thế của nhà trai càng được thừa nhận và nể phục. Cô dâu cũng tự hào và trở nên nổi tiếng. bởi người ta lý lẽ rằng cô ta đẹp, giỏi giang, “cao giá”, đến nỗi nhà trai phải tổ chức cướp mới được.