Lý luận pháp luật về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Một phần của tài liệu PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (Trang 25 - 33)

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN

1.2. Lý luận pháp luật về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

1.2.1 Khái niệm pháp luật về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Pháp luật về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành quy định các yêu cầu mang tính bắt buộc áp dụng đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư quy định: “Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

22

Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện ban hành kèm theo Luật Đầu tư năm 2014 và Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư năm 2016 được tập hợp, thống kê từ các quy định tại nhiều văn bản pháp luật có liên quan về điều kiện kinh doanh. Theo đó, Danh mục này bao gồm 243 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và được sắp xếp thứ tự theo nguyên tắc nhóm các ngành, nghề thuộc chức năng, nhiệm vụ quản lý của từng Bộ, ngành.

Quy định pháp lý hiện hành thì tại khoản 7 Điều 2 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư quy định: “Điều kiện đầu tư kinh doanh là điều kiện mà cá nhân, tổ chức phải đáp ứng theo quy định của luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế về đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh trong các ngành, nghề quy định tại Phụ lục 4 Luật Đầu tư

Tại Khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.”

Bộ Tài chính cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển thị trường bảo hiểm, thị trường tài chính của Việt Nam.

Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014, trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm có 05 ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong tổng số 267 ngành nghề kinh doanh có điều kiện là: kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, kinh

23

doanh môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm và kinh doanh đào tạo đại lý bảo hiểm.

Ngày 22/11/2016, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư. Theo đó đã giảm số ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện từ 267 ngành nghề xuống còn 243 ngành nghề. Đối với các ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thuộc lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, Luật này đã bỏ 01 ngành nghề là: “Kinh doanh đào tạo đại lý bảo hiểm”. Việc bỏ ngành nghề này xuất phát từ lý do đây không phải là ngành nghề kinh doanh độc lập mà phái sinh trên cơ sở ngành nghề kinh doanh khác. Quy định về tiêu chí để thực hiện các hoạt động trên không phải là điều kiện đầu tư kinh doanh mà là tiêu chuẩn/quy chuẩn kỹ thuật mà tổ chức cần đáp ứng khi cung cấp dịch vụ đào tạo đại lý bảo hiểm.

Ngày 14/6/2019, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật sở hữu trí tuệ. Trong đó, quy định bổ sung thêm 01 ngành nghề kinh doanh có điều kiện, và các điều kiện kinh doanh của ngành nghề “Dịch vụ phụ trợ bảo hiểm bao gồm tư vấn bảo hiểm, đánh giá rủi ro bảo hiểm, tính toán bảo hiểm, giám định tổn thất bảo hiểm, hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm.”.

Ngày 17/6/2020, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư thay thế cho Luật Đầu tư năm 2014. Theo đó, đối với Danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm đã gộp ngành nghề Phụ trợ bảo hiểm và môi giới bảo hiểm thành: Môi giới bảo hiểm, phụ trợ bảo hiểm.

Trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của Bộ Tài chính, đối với lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, đến Luật Đầu tư năm 2020 có 04 ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện bao gồm: (1) Kinh doanh bảo hiểm; (2) Kinh doanh tái bảo hiểm; (3) Môi giới bảo hiểm, hoạt động phụ trợ bảo hiểm; (4) Đại lý bảo hiểm.

24

Như vậy, Luật Đầu tư xác định 04 ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, theo đó Nhà nước đặt ra các điều kiện kinh doanh để tổ chức, cá nhân hoạt động trong những ngành nghề này phải đáp ứng điều kiện khi thành lập và hoạt động cũng như doanh nghiệp bảo hiểm khi hoạt động phải luôn duy trì các điều kiện này theo quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm và văn bản hướng dẫn.

1.2.2. Cấu trúc pháp luật về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh

Song song với 04 ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thì điều kiện đầu tư kinh doanh được quy định cụ thể tại: Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 73/2016/NĐ-CP, Nghị định số 151/2018/NĐ-CP, Nghị định số 80/2019/NĐ-CP và chia thành:

- Điều kiện cấp phép thành lập và hoạt động doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài tại Việt Nam;

- Điều kiện đối với tổ chức, cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm;

- Điều kiện đối với tổ chức, cá nhân hoạt động phụ trợ bảo hiểm.

* Theo quy định, các điều kiện kinh doanh để Bộ Tài chính cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tập trung vào các nhóm điều kiện sau:

- Điều kiện về cổ đông, thành viên góp vốn: Hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm tác động trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội và ảnh hưởng sâu, rộng đến quyền, lợi ích của rất nhiều tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, vì vậy cần thiết quy định điều kiện về chủ thể kinh doanh như:

+ Có năng lực tài chính nhất định để kinh doanh trong lĩnh vực này, tổ chức, cá nhân tham gia góp vốn phải góp vốn bằng tiền và không được sử dụng

25

vốn vay, vốn ủy thác đầu tư của tổ chức, cá nhân khác để tham gia góp vốn; Tổ chức tham gia góp vốn từ 10% vốn điều lệ trở lên phải hoạt động kinh doanh có lãi trong 03 năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép;

+ Có kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng, đây là ngành nghề kinh doanh có yêu cầu kỹ thuật cao nên chủ thể kinh doanh mà chưa có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực này khó có thể kinh doanh được nên phải đặt ra chủ thể kinh doanh phải có kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng.

- Điều kiện về doanh nghiệp bảo hiểm cần phải đáp ứng để được cấp phép thành lập và hoạt động:

+ Có vốn điều lệ góp không thấp hơn mức vốn pháp định: Theo quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải đáp ứng quy định vốn pháp định, trong đó mức vốn pháp định phân loại theo loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ: từ 600 tỷ đồng, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ: từ 300 tỷ đồng, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm: từ 4 tỷ đồng.

+ Có loại hình doanh nghiệp phù hợp quy định pháp luật: Ở ngành, nghề kinh doanh bảo hiểm; kinh doanh tái bảo hiểm; môi giới bảo hiểm điều kiện kinh doanh thể hiện bằng yêu cầu chủ thể hoạt động kinh doanh phải được tổ chức theo một loại hình nhất định. Yêu cầu của chủ thể kinh doanh là “phải là doanh nghiệp” (để đảm bảo là một tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh) .

+ Có nhân sự đáp ứng tiêu chuẩn: là những điều kiện đối với các chức danh quản trị điều hành doanh nghiệp. Lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm đòi hỏi người quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh phải có kiến thức, trình độ nhất định về bảo hiểm; có ý thức tuân thủ pháp luật. Điều kiện này được đặt ra trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm vì chất lượng nhân lực tham gia quá trình kinh doanh sẽ quyết định chất lượng sản phẩm bảo hiểm, dịch vụ cung cấp cho khách

26

hàng, từ đó ảnh hưởng tới sức khỏe, đạo đức, trật tự an toàn xã hội... Yêu cầu về nhân sự trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm được thể hiện qua một số hình thức như: yêu cầu về trình độ, chuyên môn, kinh nghiệm quản lý của Chủ tịch, Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, Trưởng bộ phận nghiệp vụ...

+ Có Điều lệ, quy chế hoạt động đáp ứng quy định pháp luật: Điều kiện này được áp dụng đối với ngành nghề kinh doanh bảo hiểm vì pháp luật kinh doanh bảo hiểm quy định cụ thể về cách thức tổ chức, hoạt động kinh doanh để đảm bảo hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm tuân thủ quy định pháp luật.

* Theo quy định, đối với điều kiện hoạt động đại lý bảo hiểm:

Điều kiện về cá nhân làm đại lý bảo hiểm: Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam; Từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và phải có Chứng chỉ đại lý bảo hiểm do cơ sở đào tạo được Bộ Tài chính chấp thuận cấp.

Điều kiện đối với Tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ các điều kiện sau đây: Là tổ chức được thành lập và hoạt động hợp pháp và có nhân viên trong tổ chức đáp ứng điều kiện như cá nhân làm đại lý bảo hiểm.

Trong đó, đối với ngành nghề này, cá nhân chỉ được làm đại lý bảo hiểm khi đáp ứng điều kiện về chứng chỉ đại lý bảo hiểm do cơ sở đào tạo được Bộ Tài chính chấp thuận cấp. Việc thi và cấp chứng chỉ đại lý bảo hiện thực hiện theo quy định tại Thông tư số 125/2018/TT-BTC, cơ sở đào tạo đăng ký kế hoạch thi chứng chỉ đại lý bảo hiểm với Bộ Tài chính, căn cứ Quyết định phê duyệt kết quả thi của Bộ Tài chính, cơ sở đào tạo cấp chứng chỉ đại lý bảo hiểm cho thí sinh thi đỗ kỳ thi chứng chỉ đại lý bảo hiểm.

* Theo quy định, đối với điều kiện cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm:

Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định tổ chức, cá nhân hoạt động trong ngành nghề này phải đáp ứng điều kiện về văn bằng, chứng chỉ, tiêu chuẩn đối với cá nhân trực tiếp thực hiện cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm tương ứng với mỗi loại hình dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, như đối với cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt

27

động tư vấn bảo hiểm và hoạt động đánh giá rủi ro bảo hiểm có chứng chỉ về tư vấn bảo hiểm/chứng chỉ về đánh giá rủi ro bảo hiểm.

Dịch vụ phụ trợ bảo hiểm là bộ phận cấu thành của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, vốn đang tồn tại trong thị trường bảo hiểm Việt Nam, thị trường bảo hiểm càng phát triển thì dịch vụ phụ trợ bảo hiểm càng có tác động lớn tới sự lành mạnh của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, giúp các bên tham gia bảo hiểm giảm thiểu rủi ro; đề phòng, hạn chế tổn thất; hạn chế gian lận bảo hiểm; tăng cường tính chuyên nghiệp của thị trường; tối ưu hóa chi phí, nguồn lực cho doanh nghiệp bảo hiểm; chi trả tiền bảo hiểm, bồi thường nhanh chóng, đầy đủ, kịp thời, bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm... Để đảm bảo chất lượng dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, cần phải được bảo đảm bằng các điều kiện hoạt động cụ thể. Vì vậy, Luật Kinh doanh bảo hiểm đã quy định điều kiện hoạt động đối với cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm và điều kiện đối với tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm.

Luật Kinh doanh bảo hiểm không quy định điều kiện về đăng ký, cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp mà chỉ đưa ra điều kiện để làm cơ sở cho cơ quan quản lý nhà nước thực hiện hậu kiểm. Quy định này phù hợp với chủ trương đổi mới trong phương thức quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, giúp doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động hiệu quả hơn, đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền lợi của khách hàng tham gia bảo hiểm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước.

28

Kết luận chương 1

Một trong những dấu ấn của công cuộc cải cách môi trường kinh doanh là việc Quốc hội thông qua Luật Đầu tư năm 2014 thay thế cho Luật Đầu tư năm 2005. Luật Đầu tư 2014 đã cụ thể hóa chủ trương về quyền tự do kinh doanh của người dân. Phương thức quản lý (hạn chế) quyền kinh doanh chuyển từ “chọn cho” sang “chọn bỏ”, có nghĩa là phương thức quy định những hoạt động mà người dân được phép kinh doanh được thay thế bằng việc quy định những ngành, nghề cấm kinh doanh và những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.

Theo Luật Đầu tư, trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm có kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh môi giới bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Tại mỗi ngành nghề này, pháp luật về kinh doanh bảo hiểm có quy định về điều kiện kinh doanh. Điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm được đặt ra với mục tiêu kiểm soát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm có khả năng ảnh hưởng lớn tới lợi ích công cộng, trật tự an toàn xã hội qua đó góp phần giúp nhà nước điều tiết, định hướng phát triển nền kinh tế khắc phục những hạn chế của thị trường.

Theo đó, để đáp ứng yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tình hình mới thì ngay từ khi xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm cần phải có các nguyên tắc, các thức xác định điều kiện kinh doanh để quy định cho phù hợp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm và thông lệ quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh năm 2018 và năm 2019 là những năm bản lề để bứt phá hoàn thành kế hoạch 05 năm 2016 - 2020, trong đó mục tiêu tổng quát là tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

29 Chương 2

Một phần của tài liệu PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (Trang 25 - 33)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(76 trang)