CHƯƠNG 2: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
2.2.1. Quản lý về tài nguyên du lịch
2.2.1.1. Khái niệm
Theo Điều 4, Luật du lịch của Việt Nam thì tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân vãn khác có thể được sử dụng nhàm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.
Các loại tài nguyên du lịch là:
- Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác.
- Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
- Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch .2
2 Điều 4 , Luật Du lịch 2005.
3 Điều 13 , Luật Du lịch 2005.
2.2.1.2. Quản lý của Nhà nưó’c về tài nguyên du lịch
Việc quản lý của Nhà nước về tài nguyên du lịch được qui đinh như sau: Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước liên quan và Ưỷ ban nhân dân cấp tỉnh điều tra, đánh giá, phân loại tài nguyên du lịch để làm căn cứ xây dựng quy hoạch phát triển du lịch, xác định và công bố các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch3.
* Định hưó’ng và phương pháp điều tra đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên
Vị trí địa lý: Xác định tọa độ, các ranh giới, vị trí tiếp giáp, khoảng cách đến các trung tâm du lịch, kinh tế -văn hóa - xã hội, khoảng cách đến các điểm du lịch, khoảng cách đến các trung tâm cung cấp và thu hút khách, thuận lợi và khó khăn trong giao lưu với các địa phương và khả năng phát triển du lịch.
Địa lý Việt Nam có bờ biển dài so với các nước trên bán đảo Trung Ấn, điều này rất phù hợp để tạo nên thiên nhiên biển đẹp và phát triển loại hình du lịch biển đảo. Lãnh thổ Việt Nam nhiều đồi núi thấp và hiểm trở, đồng bằng chỉ là những chõu thổ nhỏ ven biển, chiếm !Zằ diện thớch lãnh thỗ. Sự phân hóa từ bác vào nam, từ tây sang đông từ thấp lên cao đã tạo ra sự phân chia vùng miền khác nhau trên lãnh thổ, từ đó tạo ra địa lý về con người đa dạng tuy nhiên ở quy mô nhỏ.
Địa lý Việt Nam thuận lợi cho việc đi lại với nhiều phương tiện khác nhau, khí hậu không quá khắc nghiệt. Đó cũng là một ưu điểm phù hợp để phát triển ngành du lịch.
Khí hậu: Khí hậu bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyên, gió, các hiện tượng xảy ra trong khí quyền và nhiều yếu tố khí tượng khác trong khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định.
Khí hậu của một khu vực ảnh hưởng bởi tọa độ địa lí, địa hình, độ cao, độ ổn định của băng tuyết bao phủ cũng như các dòng nước lưu ở các đại dương lân cận.
Thống kê tất cả các yếu tổ khí hậu của địa phương nhàm tổng hợp các đặc điểm chung, cần chú ý đến các yếu tố thuận lợi, bất lợi cho hoạt động du lịch. Thời gian tác động của các yếu tố đề tính được mùa vụ trong khai thác.
Khí hậu Việt Nam có 3 đặc điểm đó là: Tính nhiệt đới, tính ầm, tính gió mùa (gồm có gió mùa mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 10, và gió mùa mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau)
Khí hậu Việt Nam không quá khắc nghiệt, phù hợp cho việc kéo dài mùa du lịch. Với khí hậu này, phù hợp trở thành một điểm đến cho khách quốc tế có nhu cầu tránh đông.
Nguồn nước: Nêu được các đặc điểm chung về sự phân bố, chất lượng nước, các loại nước. Nước mặt: sông ngòi, ao hồ, thác nước, biển nhằm đánh giá các yếu tố thuận lợi, khó khăn với các hoạt động du lịch.
Nước ngầm, nước khoáng: thành phần hóa học, nhiệt độ, khả năng khai thác cho du lịch.
Theo trung tâm quy hoạch và điều tra tài nguyên quốc gia, 63% tổng tài nguyên nước mặt của Việt Nam là nguồn nước ngoại lai, tức bát nguồn từ các quốc gia khác. Ờ lưu vực sông Hồng nguồn nước ngoại lai chiếm 50% tổng khối lượng nước bề mặt. Còn ở lưu vực sông Cửu Long 90% tống khối lượng nước bề mặt có nguồn gốc ngoại lai. Các sông nhỏ trong nội đô của các thành phố bị ô nhiễm nặng do nước thải sinh hoạt, công nghiệp. Xây dựng quá nhiều đập dâng thủy lợi và sử dụng hét lượng nước cơ bản, tạo ra khúc sông “khô” dưới đập. Các đập thuỷ điện tạo ra khúc sông “chết” dưới hạ lưu đập, tàn phá môi trường thủy sinh. Với tình trạng hiện nay, nguồn nước sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người
dân, các vi sinh vật biển. Đồng thời làm hủy hoại cảnh quan thiên nhiên, tài nguyên du lịch. Đây là một vấn đề đáng chú ý hiện nay.
Động thực vật: Diện tích rừng, các kiểu rừng, các hệ sinh thái điển hình, sự đa dạng loài — thực trạng bảo tồn đánh giá chung sự phù hợp với các loại hình: tham quan, săn bắn thể thao, nghiên cứu.
Việt Nam là quốc gia nằm ở vùng nhiệt đới, có nhiều điều kiện cho các sinh vật phát triển và tạo ra sự phong phú của nhiều loài động thực vật và nhiều hệ sinh thái khác nhau. Việt Nam có hon 19.200 loài thực vật và hơn 18.700 loài động vật. Hiện nay, với tác động của con người và sự thay đối của khí hậu, nhiều loài đã bị tuyệt chủng và một số loài khác đang dần biến mất. Theo đánh giá của Tổng cục Biến và Hải đảo Việt Nam, Có đến 236 loài thủy sinh quý hiếm bị đe dọa ở cấp độ khác nhau, trong đó có hơn 70 loài sinh vật biển đã bị liệt kê trong sách đỏ Việt Nam. Do nguồn lợi hải sản đang bị khai thác theo chiều hướng không bền vững, nen ngày càng bị cạn kiệt dần về số lượng và suy giảm cả về chất lượng.
* Đánh giá bằng cách cho điểm dựa trên các tiêu chuẩn đã xác định
- Mục tiêu: nhằm phát triển một loại hình du lịch nhằm tôn tạo bảo vệ tài nguyên.
- Thang điểm: cho điểm theo một số chỉ tiêu cụ thể.
- Độ hấp dẫn: xác định thông qua vẻ đẹp phong cảnh, đa dạng địa hình, thích hợp khí hậu, đa dạng và đặc sắc của sinh vật cũng như các hiện tượng tự nhiên.
- Độ bền vững cúa môi trường tự nhiên: khả năng bền vững của các thành phần trước áp lực của hoạt động du lịch, khách du lịch.
- Thời gian hoạt động du lịch: được xác định bởi khoáng thời gian thích hợp nhất đối với du khách và thời gian thuận lợi đế triển khai hoạt động du lịch.
- Sức chứa của lãnh thổ đám bảo sự phát triển du lịch: Diện tích đất xây dựng chỗ nghỉ đêm, diện tích đất dành cho khách vui chơi giái trí ngoài trời, diện tích bãi tắm...
Kết quả đánh giá tổng hợp thường được xác định bàng cách cộng điểm. Tổng điểm càng cao thì tài nguyên du lịch càng có nhiều thuận lợi đề phát triển.
* Các tiêu chí điều tra đánh giá tài nguyên du lịch nhân vãn
- Các di tích, công trình: Xác định tên gọi, vị trí, cảnh quan, lịch sử hình thành và phát triển, quy mô, các giá trị (kiến trúc, nghệ thuật...) giá trị được xếp hạng, tổ chức quản lý, khai thác và bảo vệ.
Di tích lịch sử — văn hoá là những nơi ẩn dấu một bộ phận giá trị văn hoá khảo cổ. Những điểm khung cảnh ghi dấu về một dân tộc học, hững nơi diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng có ý nghĩa thúc đẩy lịch sử đất nước, lịch sử địa phương phát triển, những địa điểm ghi dấu chiến công chống xâm lược, áp bức, những nơi ghi dấu giá trị lưu niệm về nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá, khoa học, những cồng trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị toàn quốc hoặc khu vực.
- Các lễ hội: số lượng lễ hội, thời gian diễn ra, giá trị và quy mô, sức hấp dẫn du khách, quản lỳ, khai thác và bảo tồn, đối với một lễ hội điển hình: không gian diễn ra, lịch sử, nội dung, thời gian, quy mô, các giá trị (cụ thể đối với du lịch).
Lễ hội: là một hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc phán ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc. Là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả hoặc là một dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hoặc chỉ đơn thuần là những hoạt động có tính chất vui chơi giải trí. Nhìn chung, các lễ hội nổi tiếng có tính hấp dẫn rất lớn đối với du khách.
Phần lễ (hay còn gọi là phần nghi lễ): Nghi thức đặc trưng, nghiêm túc, trọng thể mở đầu ngày hộ, mang tính tưởng niệm lịch sử, tỏ lòng tôn kính, tạo yếu tố thiêng liêng, giá trị thẩm mỹ
Phần hội: tổ chức những trò chơi, thi đấu, biểu diễn... mang bản sắc văn hoá dân gian. Thể hiện linh hoạt, luôn luôn được bổ sung bởi những yếu tố mới.
Ví dụ: Án Độ nổi tiếng với các lễ hội như: lễ hội Ánh Sáng, lễ hội Lạc Đà, lễ hội trừ tà. Đức cũng nồi tiếng với lễ hội Bia, lễ hội thi đua Vịt.
Thái Lan nổi tiếng với lễ hội Đèn Trời, lễ hội an chay.
Hội làng của người Việt ở đồng bằng sông Hồng là loại lễ hội truyền thống rất tiêu biểu cho xã hội nông thôn Việt Nam. Có quan điểm cho rằng đồng bằng sông Hồng là quê hương của văn hoá lúa nước, của hội làng.
về quy mô, có những lễ hội diễn ra trên một vùng rộng lớn, ngược lại có lễ hội chỉ bó hẹp trong pham vi làng, xã. Có lễ hội kéo dài tới 3 tháng (như lễ hội chùa Hương), nhưng có lễ hội chỉ một vài ba ngày. Một số lễ hội tiêu biểu thu hút đông đảo du khách và người hành hương từ nhiều vùng tới: hội Đền Hùng (Phú Thọ), lễ hội chùa Hương (Hà Tây), hội Đền Bà (Tây Ninh)...
- Nghề và làng nghề: vị trí địa lý, lịch sử phát triển, quy mô, các yếu tố nuôi dưỡng làng nghề, nghệ thuật sản xuất, các giá trị kinh tế - văn hóa,cơ chế chính sách phát triển, bảo vệ, khôi phục và khai thác làng nghề, khả năng đầu tư du lịch.
Việt Nam còn có gần 2.000 làng nghề thuộc các nhóm nghề chính như: sơn mài, gốm sứ,vàng bạc, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá... với những sản phẩm nổi tiếng, độc đáo thể hiện tư duy triết học, tâm tư tình cảm cúa con người, đặc biệt là các nghề chạm khắc, đúc đồng, thêu, dệt, sành sứ... Một số làng nghề nối tiếng:
Làng gốm Bầu Trúc, làng gốm Bác Tràng, làng tranh Đông Hồ, làng đá mỹ nghệ Non Nước, làng lụa Vạn Phúc, làng nấu rượu Kim Sơn.
- Văn hóa nghệ thuật: Các loại hình, thời gian, môi trường biểu diễn, nghệ nhân biểu diễn, nghệ thuật trình diễn, các giá trị đặc sác, thực trạng và khả năng khai thác, bảo tồn.
Các loại hình ca múa nhạc, sân khấu: gồm hiện đại và truyền thống. Ờ Việt Nam, đã có nhiều hình thức sân khấu dân gian tồn tại lâu dời như hát chèo, hát tuồng, múa rối nước... và mói hơn như cải lương, kịch dân ca. Bên cạnh đó, Việt Nam du nhập các loại hình ca múa nhạc hiên đại trên thế giới như: jazz, pop, rock, R&B, múa đương đại, hiphop, beatbox.
Điều đáng chú ý là: Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Vào
ngày 15 tháng 11 năm 2005, không gian văn hóa cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khấu và phi vật thê nhân loại vào ngày 15 tháng ĩ 1 năm 2005.
- Các đối tượng gắn vói dân tộc học: số lượng các dân tộc, tỷ lệ dân số giữa các dân tộc, địa bàn cư trú, tập quán sinh sống và sản xuất, các giá trị văn hóa đặc sắc, vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, việc khai thác phục vụ mục đích du lịch, thực trạng và khả năng phát triên du lịch dựa vào cộng đồng.
2.2.1.3. Trách nhiệm quân lý, bảo vệ, tôn tạo và phát triền tài nguyên du lịch
- Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ưỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý tài nguyên du lịch, phối hợp trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên du lịch.
- Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân sở hữu, quản lý tài nguyên du lịch có trách nhiệm bảo vệ, đầu tư, tôn tạo tài nguyên du lịch, tạo điều kiện cho khách đến tham quan, thụ hưởng giá trị của tài nguyên du lịch theo quy định của pháp luật.
- Khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch.
- Tổ chức, cá nhân sở hữu, quản lý tài nguyên du lịch có trách nhiệm phối hợp với cơ quan nhà nước về du lịch có thẩm quyền trong việc sử dụng và khai thác tài nguyên du lịch cho các mục tiêu kinh tế khác, bảo đảm không làm giảm độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch4.