Các tính tổng sản phẩm trong nước của Tổng cục Thống kê

Một phần của tài liệu Bài giảng kinh tế chính trị (Trang 120 - 128)

Tổng sản phẩm trong nước là giá trị mới của hàng hóa và dịch vụ được tạo ra của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Tổng sản phẩm trong nước được tính theo giá hiện hành và giá so sánh. Có 3 phương pháp tính:

• Phương pháp sản xuất: Tổng sản phẩm trong nước bằng tồng giá trị tăng thêm theo giá cơ bản của tất cả các ngành kinh tế cộng với thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm.

Giá trị tăng thêm là giá trị hàng hóa và dịch vụ mới tạo ra của các ngành kinh tế trong một thời kỷ nhất định. Giá trị tăng thêm là một bộ phận của giá trị sản xuất, bằng chênh lệch giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian. Giá trị tăng thêm được tính theo giá hiện hành và giá so sánh.

• Phương pháp thu nhập: Tổng sản phẩm trong nước bằng thu nhập tạo nên từ các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất như lao động, vốn, đất đai, máy móc. Theo phương pháp này, tổng sản phẩm trong nước gồm 4 yếu tố: (1) Thu nhập của người lao động từ sản xuất (bằng tiền và hiện vật); (2) Thuế sản xuất; (3) Khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất; (4) Thặng dư sản xuất.

• Phương pháp sử dụng cuối cùng: Tổng sản phẩm trong nưởc bằng tồng của 3 yếu tố: Tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư và Nhà nước; tích lũy tài sản (cố định, lưu động và quý hiếm) và chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ.

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê 2016, NXB Thống kê, Hà Nội, tr.155.

Giả định, tổng sản phẩm hàng hóa hàng năm bằng 9000, bao gồm:

I. 4000 c + 1000 V + 1000 m = 6000 dưới hình thái tư liệu sản xuất;

II. 2000c + 500v + 500m = 3000 dưới hình thái vật phẩm tiêu dùng;

Nếu toàn bộ giá trị thặng dư bị tiêu dùng một cách không sản xuất, thì “chúng ta có ba điềm tựa lớn như sau:

1) 500v, tức tiền công của công nhân, và 500m, tức giá trị thặng dư của những nhà tư bản thuộc khu vực II, phải được chi vào vật phẩm tiêu dùng. Nhưng giá trị của chúng tồn tại trong số vật phẩm tiêu dùng có một giá trị là 1000; trong tay những nhà tư bản thuộc khu vực II, số này hoàn lại 500v đã ứng ra, và đại biểu cho 500/W. Vậy là tiền công của công nhân và giá trị thặng dư của các nhà tư bản thuộc khu vực II được trao đổi trong nội bộ khu vực II, lấy sản phẩm cũng của khu vực II. Do đó (500V + 500m) II = 1000 bị loại ra khỏi tồng sản phẩm dưới hình thái vật phẩm tiêu dùng.

2) 1000v + 1000m thuộc khu vực I cũng phải được chi vào vật phẩm tiêu dùng, tức là mua sản phẩm của khu vực II. Vậy là chúng phải được trao đổi với các bộ phận còn lại của sản phẩm của khu vực II, bộ phận này có một đại lượng bằng bộ phận tư bản bất biến 2000c. Ngược lại, khu vực II nhận được một số bằng từng ấy tư liệu sản xuất, sản phẩm của khu vực I;

sản phẩm này thể hiện giá trị của 1000v + 1000m của khu vực I. Do đó, 2000c của khu vực II và (1000v + 1000m) của khu vực I bị loại ra khỏi con tính của chúng ta.

3) Còn lại 4000c của khu vực I. 4000c này gồm những tư liệu sản xuất chỉ có thể dùng trong khu vực thôi, nên được dùng để hoàn lại tư bản bất biến đã tiêu dùng của khu vực này; do đó chúng cũng được giải quyết nhờ sự trao đổi lẫn cho nhau giữa các nhà tư bản cá biệt của khu vực I, hệt như số (500v + 500m) của khu vực II được giải quyết nhờ sự trao đổi lẫn cho nhau giữa công nhân và các nhà tư bản, hoặc do sự trao đổi giữa những

nhà tư bản cá biệt với nhau thuộc khu vực II”2 3.

Từ phân tích ví dụ trên C.Mác chỉ ra các điều kiện bảo đảm tái sản xuất xã hội giản đơn như sau:

Điều kiện thứ nhất: giá trị mới của khu vực I sản xuất ra bằng tư bản bất biến của khu vực II đã tiêu dùng: I (V + M) = II C

Điều kiện thứ hai: toàn bộ giá trị sản phẩm của khu vực I bằng tổng số tư bản bất biến của cả hai khu vực đã tiêu dùng: I(C + V + M) = 1C +II C

Điều kiện thứ ba: toàn bộ giá trị sản phẩm của khu vực II bằng giá trị mới của cả hai khu vực: II (C + V + M) = I (V + M) + II (V 4- M)

Khu vực I phải sản xuất đủ tư liệu sản xuất, bù đắp về giá trị và hiện vật những tư liệu sản xuất đã tiêu dùng đề sản xuất tư liệu sản xuất trong khu vực I, đồng thời phải đủ bù đắp về giá trị và hiện vật cho những tư liệu sản xuất đã tiêu dùng để sản xuất tư liệu tiêu dùng thiết yếu và sản xuất hàng xa xỉ của khu vực II.

Khi nghiên cứu tái sản xuất mở rộng, C.Mác vẫn dùng các giả định như ở tái sản xuất xã hội giản đơn và thêm một yếu tố có tính chất quyết định là: Một bộ phận giá trị thặng dư được biến thành c phụ thêm và V phụ thêm. Mỗi bộ phận đó phải tìm được những tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng tương ứng với nhu cầu của nó. Khi đó, cơ cấu của sản xuất xã hội có những thay đổi so với tái sản xuất xã hội giản đơn.

2.

3

Sơ đồ xuất phát của tái sản xuất với quy mô mở rộng4:

I. 4000c + 1000v + 1000m = 6000

Tổng cộng=9000 II. 1500c + 750v + 750m = 3000

Giả định rằng, một nửa giá trị thặng dư của khu vực I, tức là 500, được tích lũy lại; như vậy trước hết, chúng ta có (1000v + 500m) I hay là 1500 I (v+m ) phải được thay thế bằng 1500 IIc; thế thì ở khu vực I còn:

400c + 500m, số sau phải được tích lũy lại. Sự thay thế (1000v + 500m) I bằng 1500 IIc là một quá trình tái sản xuất giản đơn và nó đã được giải thích khi nghiên cứu tái sản xuất giản đơn.

Giả định rằng trong số 500 Im thì 400 phải chuyển hóa thành tư bản bất biến và 100 thành tư bản khả biến. Sự trao đổi 400m phải được tư bản hóa trong nội bộ khu vực I đã được chúng ta nghiên cứu rồi; như vậy 400m đó có thể bị sáp nhập vào Ic mà không cần giải thích gì nữa, và như thế, ở khu vực I chúng ta có:

4400c + 1000v + 100m (100m này phải chuyển hóa thành 100v).

Về phía mình, nhằm mục đích tích lũy, khu vực II mua ở khu vực I số 100 Im (tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất), số này bây giờ sẽ tạo thành tư bản bất biến phụ thêm của khu vực II, còn số tiền 100 mà khu vực II dùng để trả những tư liệu sản xuất đó thì chuyển hóa thành hình thái tiền của tư bản khả biến phụ thêm của khu vực I. Như thế ở khu vực I, chúng ta có một tư bản là 4400c + 1100v (số sau bằng tiền) = 5500.

4Xem: C.Mác vả Ph.Ảngghen, Toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội, 1994, tập 24, tr.746-748.

Bây giờ, khu vực II có I 600c cho tư bản bất biến; muốn sử dụng chúng trong quá trình sản xuất khu vực II phải ứng thêm 50v nữa bằng tiền đề mua sức lao động mới, thành thử tư bản khả biến của khu vực II từ 750 tăng lên thành 800. Sự tăng thêm đó của tư bản bất biến và tư bản khả biến khu vực II, tổng cộng là 150, là lấy ở số giá trị thặng dư của nó; như vậy trong số 750 IIm chỉ còn 600 m là quỹ tiêu dùng của các nhà tư bản khu vực II; sản phẩm hàng năm của họ được phân phối như sau:

II. 1600c + 800v + 600m (quỹ tiêu dùng) = 3000.

Số 150m được sản xuất ra dưới hình thái vật phẩm tiêu dùng mà ở đây được chuyển hóa thành (100c + 50v) II, hoàn toàn được thu hút vào sự tiêu dùng của công nhân dưới hình thái hiện vật: 100 do những công nhân khu vực I (100 Iv) tiêu dùng và 50 được công nhân khu vực II (50 IIv) tiêu dùng, như chúng ta đã nói ở trên. Thật thế, ở khu vực II, nơi mà tổng sản phẩm được chế tạo ra dưới hình thái cần thiết cho tích lũy, thì một bộ phận giá trị thặng dư, đã tăng thêm 100, phải được tái sản xuất ra dưới hình thái tiêu dùng cần thiết. Nếu tái sản xuất theo quy mô mở rộng đã thực sự bắt đầu, thì số 100 tư bản tiền tệ khả biến của khu vực I sẽ thông qua tay công nhân của khu vực I mà dồn trở về khu vực II; trái lại, 100m của khu vực II dưới hình thái dự trữ hàng hóa được chuyển sang cho khu vực I và đồng thời 50 dưới hình thái dự trữ hàng hóa cũng được chuyển cho công nhân cùa bản thân khu vực ấy.

Sự sắp xếp toàn bộ sản phẩm dã thay đổi nhằm mục đích tích lũy bây giờ là như sau:

I. 4400c + 1100v + 500 quỹ tiêu dùng = 6000

Tổng cộng = 9000 như trên.

II. 1600c + 800v + 600 quỹ tiêu dùng = 3000 Trong đó, tư bản là:

I. 4400c + 1 lOOv (tiền) = 5500 .

=7900 II. 1600c + 800v (tiền) = 2 400

trong lúc đó, sản xuất bắt đầu với:

I. 4000c + 1000v = 5000

=7250 II. 1500c + 750v = 2250

Nếu giờ đây, tích lũy hiện thực diễn ra trên cơ sở đó, nghĩa là nếu sản xuất thực sự được tiến hành với một tư bản đã tăng lên như thế, thì đến cuối năm sau, chúng ta sẽ có:

I. 4400c + 1100v + 1100 m = 6600 .

=9800.

II. 1600c + 800v + 800 m = 3200

Các điều kiện thực hiện trong tái sản xuất xã hội mở rộng là:

Điều kiện thứ nhất: giá trị mới của khu vực I sản xuất ra phải lớn hơn tư bản bất biến của khu vực II đã tiêu dùng: I (V + M) > IIC

Điều kiện thứ hai: toàn bộ giá trị sản phẩm của khu vực I phải lớn hơn tổng số tư bản bất biến của cả hai khu vực đã tiêu dùng: I (C + V + M)> IC + IIC

Điều kiện thứ ba: toàn bộ giá trị sản phẩm của khu vực II phải nhỏ hơn giá trị mới của cả hai khu vực: II (C + V + M) < I (V + M) + II (V + M)

iii). Tái sản xuất mở rộng tư bản xã hội trong điều kiện phát triển khoa học công nghệ và nền kinh tế mở

Mục đích nghiên cứu của C.Mác là vạch ra những điều kiện thực hiện sản phẩm trong tái sản xuất tư bản xã hội mà thực chất là vạch ra phương trình trao đổi giữa hai khu vực. Do đó, C.Mác không tính đến sự tăng lên của cấu tạo hữu cơ, mặc dù C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra quy luật đó.

V.I.Lênin đã áp dụng lý luận tái sản xuất tư bản xã hội của C.Mác để nghiên cứu sự hình thành của thị trường tư bản chủ nghĩa do kết quả trực tiếp của việc phát triển lực lượng sản xuất. Lênin nhận ra rằng tiến bộ kỹ thuật tác động mạnh tới sự thay đổi cấu tạo hữu cơ của cả hai khu vực. Dựa trên kết quả phân tích sự biến động cấu tạo hữu cơ trong hai khu vực qua nhiều năm, Lênin đã phát hiện ra quy luật: “sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu sản xuất tăng nhanh nhất, sau đến sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tiêu dùng và cuối cùng chậm nhất là sự phát triển của sản xuất tư liệu tiêu dùng”(12). Đó là quy luật ưu tiên phát triển sản xuất tư liệu sản xuất, một quy luật kinh tế quan trọng của tái sản xuất mở rộng trong điều kiện kỹ thuật ngày càng tiến bộ. Ý nghĩa của quy luật này cần quan tâm ưu tiên phù hợp cho phát triển sản xuất tư liệu sản xuất như là tiền đề vật chất quan trọng cho tái sản xuất mở rộng trên quy mô lớn và với trình độ cao. Trong mọi nền kinh tế, dựa trên những nền tảng chiến lược phát triền khoa học và hiệu quả, việc quan tâm phát triển sản xuất tư liệu sản xuất phù hợp về quy mô và chủng loại, chất lượng luôn có giá trị kinh tế chính trị cao nhằm bảo đảm năng lực kinh tế, độc lập tự chủ trong phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trên thị trường quốc tế.

Khi phân tích tái sản xuất và thực hiện sản phẩm trong chủ nghĩa tư bản, Mác trừu tượng hóa hoạt động ngoại thương. Thực ra, quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa đã vượt ra ngoài phạm vi không gian của nền kinh tế mỗi quốc gia. Trong Chủ nghĩa tư bản đương đại, nền kinh tế của các nước tư bản lại càng mở, tăng tính liên kết, phụ thuộc lẫn nhau, hội nhập sâu vào thị trường toàn cầu. Quá trình tái sản xuất tư bản xã hội diễn ra không chỉ trong từng quốc gia mà còn trên quy mô toàn cầu. Đó là môi trường thuận lợi cho việc thực hiện đúng các điều kiện của tái sản xuất xã hội mà C.Mác đã phát triển chứ không phủ định chúng. Trong điều kiện đó, khi vận dụng những điều kiện thực hiện của Mác, cần phải đặt nền kinh tế mỗi nước trong mối quan hệ trao đổi với các nền kinh tế thế giới như là một chỉnh thể thống nhất.

Trong điều kiện nền kinh tế mở, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, mỗi quốc gia có thể mở rộng sản xuất với trình độ cao mà không nhất thiết phải đầu tư phát triển sản xuất mọi loại tư liệu sản xuất mà mình đang cần, những tư liệu sản xuất chưa tự sản xuất được có thể trao đồi với các quốc gia có khả năng cung ứng phù hợp. Hơn nữa, những quốc gia có năng lực phát triển sản xuất tư liệu tiêu dùng vượt quá nhu câu trong nước, phần dư thừa đó có thể trao đổi trên thị trường ngoài nước để đổi lấy tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ.

Tái sản xuất mở rộng trong chủ nghĩa tư bản diễn ra theo những giai đoạn, gắn với sự thay đổi khoa hợc - công nghệ, yếu tố thời đại (Hộp 4.2).

Một phần của tài liệu Bài giảng kinh tế chính trị (Trang 120 - 128)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(309 trang)
w