Một số đặc điểm tái sản xuất gắn vói các giai đoạn phát triển của Chủ nghĩa tư bản

Một phần của tài liệu Bài giảng kinh tế chính trị (Trang 128 - 131)

- Thời kỳ trước thế kỷ XVIII: tái sản xuất theo chiều rộng chiếm ưu thế, tăng trường kinh tế đạt được chủ yếu dựa trên sự tăng quy mô bóc lột lao động làm thuê trong khi tư liệu sản xuất không thay đổi.

- Từ khi xuất hiện và phổ cập sản xuất bằng máy móc cơ khí đã tạo ra bước ngoặt trong tăng trưởng kinh tế. Những nhân tố tăng trưởng theo chiều sâu xuất hiện. Vào thế kỷ XVIII - XIX, xuất hiện nhiều phát kiến kỹ thuật, được vận dụng vào sản xuất, làm thay đổi năng suất lao động đáng kể.

Cấu tạo hữu cơ tư bản tăng vọt. Giá ưị thặng dư tăng nhanh, phằn thặng dự được tư bản hóa được đầu tư vào phát triền triên tư liệu sản xuất như máy móc, công cụ sản xuất.

- Những thập niên đầu tới thập kỷ 50s thế kỷ XX, cải tiến mạnh mẽ trong tổ chức quản lý và sản xuất như sản xuất hàng loạt theo dây chuyền và áp dụng rộng rãi việc tiêu chuẩn hóa, ưu tiên yếu tố tiết kiệm tư bản. Năng suất lao động tăng lên, góp phần làm tăng tư bản tích lũy.

- Giai đoạn từ 1950s-1980s, nguồn lực tái sản xuất được bồ sung nhờ tăng trưởng kinh tế do làn sóng cách mạng khoa học - kỹ thuật. Tăng trưởng nhanh của nhiều ngành cơ bản như ô tô, máy bay, kỹ thuật điện, hóa dầu, công cụ chính xác, v.v... Bên cạnh đó, giá nguyên, nhiên vật liệu rẻ, sản xuất chuyển sang trình độ cao hơn. Những nhân tố đó làm tăng năng suất lao động, tăng tỷ lệ tích lũy tư bản.

-Giai đoạn từ 1990s đến nay: xu hướng toàn cầu hóa, tiến bộ khoa học - công nghệ, internet, kinh tế tri thức, đặc biệt làn sóng cách mạng công nghiệp 4.0 là những nhân tố tác động mạnh mẽ tới tăng trưởng, tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và chiều sâu.

Nguồn: Tập hợp từ các nghiên cứu kinh tế, lịch sử kinh tế quốc dân.

Những mối liên hệ và tác động qua lại của tư bản ngày càng chặt chẽ trong điều kiện chủ nghĩa tư bản hiện, đại, tái sản xuất xã hội trong điều kiện toàn cầu hóa bao hàm trong nó sự vận động liên hệ lẫn nhau của tư bản các liên hiệp độc quyền, các doanh nghiệp nhà nước, các xí nghiệp tư bản vừa và nhỏ, những người sản xuất nhỏ trong phạm vi toàn cầu.

Ngày nay, tái sản xuất tư bản xã hội không chỉ được hiểu là tái sản xuất trong phạm vi từng nước, trong điều kiện tư bản chủ nghĩa đương đại, sự vận động của tư bản các nước đan xen vào nhau, các khâu của quá trình tái sản xuất đã vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia. Vì vậỵ, khái niệm tái sản xuất xã hội cũng được mở rộng hơn và những nhân tố ảnh hưởng đến tái sản xuất tư bản xã hội cũng phức tạp hơn.

iv). Hàm ý rút ra từ nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội của Mác và Lênin

- Lý luận tái sản xuất tư bản xã hội của C.Mác và Lênin có ý nghĩa thực tiễn đối với các quốc gia đương đại, giá trị tham khảo cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vì nó dựa trên cơ sở sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất.

- Tái sản xuất mở rộng có ý nghĩa quan trọng cho phát triển kinh tế trong những giai đoạn tiếp theo, bảo đảm tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng cho xã hội. Nguồn gốc của tái sản xuất mở rộng là sản phẩm giá trị thăng dư cần tích lũy trong từng chu kỳ phát triển theo hướng quy mô tăng dần.

- Tái sản xuất mở rộng diễn ra khi và chỉ khi có tích lũy ở cả hai khu vực, trong đó tích lũy của khu vực 1 quyết định quy mô tích lũy của khu vực II. Khu vực II cũng có tác động tích cực trở lại bởi vì khu vực II mở rộng sản xuất như tạo động lực cho khu vực I mở rộng quy mô sản xuất.

Tái sản xuất diễn ra bình thường khi giữa hai khu vực hay các ngành, lĩnh vực sản xuất phải duy trì các cân đối phù hợp.

4.3. KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ

TRƯỜNG

4.3.1. Khủng hoảng và chu kỳ kinh tế

Khủng hoảng kinh tế là trạng thái kinh tế trong đó quá trình sản xuất bị gián đoạn bởi những cú sốc đặc biệt khốc liệt, bộc lộ những mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế.

Khủng hoảng kinh tế phổ biến là khủng hoảng sản xuất thừa5. Sản xuất thừa không theo nghĩa tuyệt đối, tức là thừa so với nhu cầu của xã hội mà cần hiểu theo nghĩa tương đối, tức là thừa so với nhu cầu có khả năng thanh toán (sức mua) của xã hội. Do vậy, chính trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, có thể có nhiều người vẫn bị đói rét do không có tiền để mua hàng hóa.

Khủng hoảng kinh tế mang tính lịch sử nhất định. Trong nền kinh tế tự nhiên, các nguyên nhân khách quan như chiến tranh, thiên tai, bệnh dịch...là căn nguyên chính dẫn tới những biến động phá hoại nền kinh tế.

Khi nền kinh tế phát triển, chuyển sang nền sản xuất hàng hóa giản đơn, nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng kinh tế trở nên phức tạp hơn. Mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa bắt đầu thể hiện hiệu lực, xuất hiện của tiền tệ gắn liền với chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán, cùng với sự phát triển của quan hệ tín dụng, hoạt động đầu cơ, gây ra sự gián đoạn trong giao dịch kinh tế. Tuy nhiên, do quy mô hoạt động kinh tế còn nhỏ hẹp, quan hệ kinh tế giản đơn nên khủng hoảng kinh tế gần như khó diễn ra hay chỉ diễn ra quy mô nhỏ.

Khủng hoảng kinh tế chỉ trở nên khốc liệt khi nền đại công nghiệp cơ khí ra đời. Nguyên nhân sâu xa chủ yếu của khủng hoảng kinh tế là mâu

5

Trong thực tế, cỏ khủng hoàng thiểu, có nghĩa là khùng hoảng kinh té do sức sản xuất rất kốm quá không đù năng lực cung cấp cho nhu cầu của xã hội, làm cho giá hàng hóa và dịch vụ tăng cao, chi phỉ sinh hoạt trở nên đắt đỏ.

thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản - mâu thuẫn giữa tính chất và trình độ xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Mâu thuẫn này biểu hiện thành mâu thuẫn đối kháng giữa tư bản và lao động; mâu thuẫn giữa tính kế hoạch cao trong từng doanh nghiệp với tính chất cạnh tranh vô chính phủ trên phạm vi xã hội; mâu thuẫn giữa sức mua có hạn của người lao động với khuynh hướng tích lũy không giới hạn của tư bản. Đây là nguyên nhân trực tiếp và cuối cùng của khủng hoảng kinh tế dưới Chủ nghĩa tư bản.

Khủng hoảng sản xuất thừa là hình thức đầu tiên và phổ biến trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Khủng hoàng kinh tế chỉ xảy ra khi xuất hiện tiền đề vật chất là nền đại công nghiệp cơ khí ra đời. Ở Anh, Chủ nghĩa tư bản ra đời từ thế kỷ XVI nhưng mãi đến năm 1825 mới nổ ra cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên. Trong các nước tư bản khác, khủng hoảng kinh tế còn diễn ra chậm hơn, chẳng hạn ở Mỹ vào năm 1836, Đức và Pháp vào năm 1847 và Nhật vào năm 1890. Cuộc khủng hoảng kinh tế có tính chất thế giới đầu tiên nổ ra năm 1847. Cụ thể, những cuộc khủng hoảng kinh tế trong các nước tư bản thể hiện trong Hộp (4.3).

Một phần của tài liệu Bài giảng kinh tế chính trị (Trang 128 - 131)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(309 trang)
w