Phân tích nhân vật anh thanh niên

Một phần của tài liệu Ga day them van 9 kỳ 1 (21 22) (Trang 66 - 73)

Tháng 12 Tuần 1 CHỦ ĐỀ TRUYỆN HIỆN ĐẠI

2. Phân tích nhân vật anh thanh niên

- Tác giả - Tác phẩm

Thảo luận nhóm 5 phút H:Anh thanh niên có phong cách sông cao đẹp như thế nào?

HS thảo luận, cử đại diện trình bày kết quả.

GV nhận xét, chốt.

H: Hình ảnh anh đại diện như thế nào cho những con người lao động mới?

Yêu cầu viết một số đoạn

B. Thân bài

Hình ảnh xuất hiện anh thanh niên

Xuất hiện trong cuộc gặp gỡ với 3 người đó là anh lái xe, ông họa sĩ và một cô gái trẻ. Đồng thời anh còn để lại nhiều ấn tượng với ông họa sỹ và các nhân vật khác.

Công việc thực hiện

– Anh sống trên núi cao, thực hiện công việc trên trạm khí tượng. Cuộc sống thiếu thốn, khổ cực.

– Công việc thực hiện trong điều kiện thời tiết khó khăn, thử thách với mưa sương gió lạnh.

– Anh có những suy nghĩ đẹp về ý nghĩa của cuộc sống, công việc mà mình đang thực hiện.

Phong cách sống đẹp

– Tâm hồn anh thanh niên luôn yêu đời, yêu con người, khiêm tốn với người khác:

+ Yêu con người, yêu thiên nhiên, quý trọng tình cảm của con người với con người.

+ Trung thực với công việc (tự giác tự nguyện với công việc, hoàn thành nhiệm vụ được giao phó), đức tính khiêm nhường.

– Chủ động trong công việc thực hiện, lối sống khoa học, nề nếp.

Anh thanh niên đại diện cho người lao động – Anh thanh niên là đại diện chung cho những người lao động nhiệt huyết, sống đẹp, cống hiến vì Tổ quốc một cách thầm lặng, vô tư.

– Những con người khiến tốn, giản dị, trung thực.

Âm thầm thực hiện công việc nhiệm vụ được giao C.Phần Kết bài:

Nêu cảm nhận hình tượng anh thanh niên

B. LUYỆN ĐỀ

Đề 1: Viết bài văn nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên được thể hiện qua đoạn trích sau:

“ Thôi, chấm dứt tiết mục hái hoa – Người con trai bất chợt quyết định – Bác lái xe chỉ cho ba mươi phút thôi. Hết năm phút rồi. Cháu nói qua công việc của cháu, năm phút. Còn hai mươi phút, mời bác và cô vào nhà uống chè, cho cháu nghe chuyện. Cháu thèm nghe chuyện dưới xuôi lắm. Công việc của cháu cũng quanh quẩn ở mấy chiếc máy ngoài vườn này thôi. Những cái máy vườn trạm khí tượng nào cũng có. Dãy núi này có một ảnh hưởng quyết định tới gió mùa đông bắc đối với miền Bắc nước ta. Cháu ở đây có nhiệm vụ đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết hằng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu. Đây là máy móc của cháu. Cái thùng đo mưa này, ở đâu bác cũng trông thấy, mưa xong đổ nước ra cốc li phân mà đo. Cái này là máy nhật quang kí, ánh nắng mặt trời xuyên qua cái kính này, đốt các mảnh giấy này, cứ theo mức độ, hình dáng vết cháy mà định nắng. Đây là máy Vin, nhìn khoảng cách giữa các răng cưa mà đoán gió. Ban đêm, không nhìn mây, cháu nhìn gió lay lá hay nhìn trời, thấy sao nào khuất, sao nào sáng, có thể nói được mây, tính được gió. Cái máy nằm dưới sâu kia là máy đo chấn động vỏ quả đất. Cháu lấy những con số, mỗi ngày báo về “nhà” bằng máy bộ đàm bốn giờ, mười một giờ, bảy giờ tối, lại một giờ sáng. Bản báo ấy trong ngành gọi là “ốp”. Công việc nói chung dễ, chỉ cần chính xác. Gian khổ nhất là lần ghi và báo về lúc một giờ sáng. Rét, bác ạ. Ở đây có mưa tuyết đấy. Nửa đêm đang nằm trong chăn, nghe chuông đồng hồ chỉ muốn đưa tay tắt đi. Chui ra khỏi chăn, ngọn đèn bão vặn to đến cỡ nào vẫn thấy là không đủ sáng. Xách đèn ra vườn, gió tuyết và lặng im ở bên ngoài như chỉ chực đợi mình ra là ào ào xô tới. Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ: nó như bị gió chặt ra từng khúc, mà gió thì giống những nhát chổi lớn, muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung…

Những lúc im lặng lạnh cóng mà lại hừng hực như cháy. Xong việc, trở vào, không thể nào ngủ lại được”.

(Trích Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long,Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam 2016)

Gợi ý:

1. Mở bài:

- Nguyễn Thành Long là nhà văn chuyên viết truyện ngắn và kí. Ông được độc giả yêu mến bởi lối văn lịch lãm và tinh tế…

- Lặng lẽ Sa Pa là truyện ngắn đặc sắc nhất của ông…

- Nêu vấn đề: Nguyễn Thành Long khắc họa vẻ đẹp nhân vật anh thanh niên trong công việc khó khăn và gian khổ mà anh đảm nhiệm.

- Trích đoạn truyện 2. Thân bài:

a. Khái quát: Hoàn cảnh sáng tác, tình huống truyện, vị trí….

- Hoàn cảnh sáng tác: Truyện được viết năm 1970 nhân chuyến đi thực tế Lào Cai của tác giả.

- Tình huống truyện: Truyện kể về nhân vật anh thanh niên 27 tuổi làm nghề công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu, sống trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m quanh năm mây mù che phủ. Anh là người yêu, say mê với công việc của mình, có tinh thần tự giác, dám nghĩ, dám làm. Nhưng anh lại là người cô độc nhất thế gian mắc một căn bệnh “thèm người”. Trong một dịp tình cờ anh được gặp ông họa sĩ già và cô kĩ sư nông nghiệp trẻ mới ra trường qua lời giới thiệu của bác lái xe. Anh mời họ vào nhà chơi để thăm nơi ở, nơi làm việc của mình và trò chuyện rất vui vẻ. Ông họa sĩ vô cùng xúc động khi chứng kiến cuộc sống của anh và muốn vẽ anh nhưng anh đã từ

chối và giới thiệu với ông họa sĩ người xứng đáng hơn mình. Hết thời gian nửa giờ ngắn ngủi đến lúc họ phải chia tay nhau quyến luyến để tiếp tục cuộc hành trình của mình.

- Vị trí đoạn truyện: Đoạn truyện nằm ở đầu truyện sau một đoạn miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên Sa Pa, sau phần giới thiệu của nhân vật bác lái xe. Đoạn trích kể phần đầu cuộc gặp gỡ giữa các vị khách với nhân vật chính, đem đến nhiều bất ngờ và cảm mến về vẻ đẹp nhân vật.

b. Cảm nhận:

Luận điểm 1: Anh thanh niên là một người yêu nghề sâu sắc.

- Anh yêu công việc của mình, anh chủ động kể về nó một cahs say sưa và tự hào khi có ông họa sĩ và cô kĩ sư đến thăm nơi anh ở và làm việc.

- Ý thức được tầm quan trọng của công việc mình làm: phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu.

- Làm việc một mình trên đỉnh núi cao, không ai giám sát, thúc giục anh vẫn luôn tự giác, tận tụy. Suốt một năm ròng rã ghi và báo “ốp” đúng giờ. Phải ghi và báo về nhà trong mưa tuyết lạnh cóng, gió lớn và đêm tối lúc 1 giờ sáng, anh vẫn không ngần ngại.

- Anh thuyết phục được người nghe vì không những anh am hiểu công việc mà còn biết và chủ động khắc phục khó khăn, chiến thắng bản thân, chiến thắng nỗi cô đơn, mệt mỏi, tính chất đơn điệu của công việc và cả căng thảng, sợ hãi: “Gian khổ nhất là lần ghi và báo về lúc một giờ sáng. Rét, bác ạ. Ở đây có mưa tuyết đấy. Nửa đêm đang nằm trong chăn, nghe chuông đồng hồ chỉ muốn đưa tay tắt đi. Chui ra khỏi chăn, ngọn đèn bão vặn to đến cỡ nào vẫn thấy là không đủ sáng. Xách đèn ra vườn, gió tuyết và lặng im ở bên ngoài như chỉ chực đợi mình ra là ào ào xô tới. Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ: nó như bị gió chặt ra từng khúc, mà gió thì giống những nhát chổi lớn, muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung… Những lúc im lặng lạnh cóng mà lại hừng hực như cháy. Xong việc, trở vào, không thể nào ngủ lại được”.

Vì yêu nghề nên anh có tinh thần trách nhiệm với công việc, luôn nỗ lực khắc phục khó khăn, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Luận điểm 2: Người thanh niên ấy còn khiến ta cảm mến về sự cởi mở, chân thật:

- Sống trong hoàn cảnh như thế, nhiều người có thể dần dần thu mình lại trong nỗi cô đơn, sầu muộn, hoặc có thể trở nên cỗi cằn, giá lạnh.

- Nhưng anh thanh niên này thật đáng yêu ở nỗi “thèm người”, “ thèm nghe chuyện dưới xuôi”. Ở anh trong cả câu chuyện ta bắt gặp lòng hiếu khách đến nồng nhiệt và sự quan tâm đến người khác một cách chu đáo. Riêng đoạn văn trên đưa ta đến một cảm nhận về một tâm hồn khát khao tìm sự đồng cảm đồng điệu, khát khao chia sẻ.

Anh quý trọng từng giây để được trò truyện với khách lạ.

- Kể về mình anh không hề giấu giếm những phút yếu lòng trước hoàn cảnh sống và làm việc khó khăn, thử thách, những khi ngần ngại trước điều kiện thời tiết hay sự thách thức quá sức chịu đựng của công việc và anh cũng không giấu nỗi thèm người.

c. Đánh giá, liên hệ:

- Thành công về nghệ thuật của nhà văn khi xây dựng nhân vật anh thanh niên. Tình huống truyện hợp lý, cách kể truyện tự nhiên, truyền cảm, thuyết phục. Ngôn ngữ nhân vật đối thoại thể hiện tính cách nhân vật, độc thoại thể hiện suy nghĩ cảm xúc.

- Anh thanh niên là hình ảnh tiêu biểu cho những con người ở Sa Pa, là chân dung của con người lao động mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

- Mở rộng: Học sinh có thể liên hệ tới quan điểm sống đẹp trong một số bài thơ như:

Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, “ Một khúc ca xuân” của Tố Hữu..

3. Kết bài

- Ấn tượng sâu sắc mà anh thanh niên để lại trong lòng người đọc chính là cuộc sống, tâm hồn đẹp đẽ đáng trân trọng và khâm phục. Anh là người tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam ở mọi thời đại

- Liên hệ bản thân: Từ những suy nghĩ và nhận thức đúng đắn của anh thanh niên về công việc trong đoạn trích trên đã gợi cho thế hệ những suy nghĩ về trách nhiệm với đất trời. Tuổi trẻ cần xác định được mục đích sống cao đẹp, cao đẹp, sống có lý tưởng, yêu quê hương đất nước. Tuổi trẻ phải ra sức học tập, tích lũy tri thức, rèn luyện sức khỏe, tu dưỡng đạo đức, trở thành người công dân tốt. Tuổi trẻ phải có trách nhiệm đem sức trẻ và tài năng trí tuệ của mình xây dựng phát triển đất nước, hội nhập với các nước trên thế giới.

Đề 2: Viết bài văn nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên được thể hiện qua đoạn trích sau:

…“Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này cháu không nghĩ như vậy nữa. Vả, khi ta việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia.

Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất. Còn người thì ai mà chả “thèm” hở bác? Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc? Đấy, cháu tự nói với cháu thế đấy. Bác lái xe đi, về Lai Châu cứ đến đây dừng lại một lát. Không vào giờ “ốp” là cháu chạy xuống chơi, lâu thành lệ.

Cháu bỗng dưng tự hỏi: Cái nhớ xe, nhớ người ấy thật ra là cái gì vậy? Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô hội thì xoàng. Cháu ở liền trong trạm hàng tháng. Bác lái xe bao lần dừng, bóp còi toe toe, mặc, cháu gan lì nhất định không xuống. Ấy thế là một hôm, bác lái phải thân hành lên trạm cháu. Cháu nói: “Đấy, bác cũng chẳng

“thèm” người là gì?”

Anh xoay sang người con gái đang một mắt đọc cuốn sách, một mắt lắng nghe, chân cô đung đưa khe khẽ, nói:

- Và cô cũng thấy đấy, lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà. Mỗi người viết một vẻ.

- Quê anh ở đâu thế ? Họa sĩ hỏi.

- Quê cháu ở Lào Cai này thôi. Năm trước, cháu tưởng cháu được đi xa lắm cơ đấy, hóa lại không. Cháu có ông bố tuyệt lắm. Hai bố con cùng viết đơn xin ra lính đi mặt trận. Kết quả: bố cháu thắng cháu một - không. Nhân dịp Tết, một đoàn các chú lái máy bay lên thăm cơ quan cháu ở Sa Pa. Không có cháu ở đấy. Các chú lại cử một chú lên tận đây. Chú ấy nói: nhờ cháu có góp phần phát hiện một đám mây khô mà ngày ấy, tháng ấy, không quân ta hạ đựơc bao nhiêu phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng. Đối với cháu, thật là đột ngột, không ngờ lại là như thế. Chú lái máy bay có nhắc đến bố cháu, ôm cháu mà lắc “Thế là một-hòa nhé!”. Chưa hòa đâu bác ạ.

Nhưng từ hôm ấy cháu sống thật hạnh phúc. Ơ, bác vẽ cháu đấy ư? Không, không, đừng vẽ cháu! Để cháu giới thiệu với bác những người khác đáng cho bác vẽ hơn”....

(Trích Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long - Ngữ văn 9 tập 1) Gợi ý:

1. Mở bài:

- Nguyễn Thành Long là nhà văn chuyên viết truyện ngắn và kí. Ông được độc giả yêu mến bởi lối văn lịch lãm và tinh tế…

- Lặng lẽ Sa Pa là truyện ngắn đặc sắc nhất của ông…

- Nêu vấn đề: Nhân vật anh thanh niên là người yêu nghề, say mê công việc, trách nhiệm, tận tụy với công việc.

- Trích đoạn truyện 2. Thân bài:

a. Khái quát: Hoàn cảnh sáng tác, tình huống truyện, vị trí….

- Hoàn cảnh sáng tác: Truyện được viết năm 1970 nhân chuyến đi thực tế Lào Cai của tác giả.

- Tình huống truyện: Truyện kể về nhân vật anh thanh niên 27 tuổi làm nghề công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu, sống trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m quanh năm mây mù che phủ. Anh là người yêu, say mê với công việc của mình, có tinh thần tự giác, dám nghĩ, dám làm. Nhưng anh lại là người cô độc nhất thế gian mắc một căn bệnh “thèm người”. Trong một dịp tình cờ anh được gặp ông họa sĩ già và cô kĩ sư nông nghiệp trẻ mới ra trường qua lời giới thiệu của bác lái xe. Anh mời họ vào nhà chơi để thăm nơi ở, nơi làm việc của mình và trò chuyện rất vui vẻ. Ông họa sĩ vô cùng xúc động khi chứng kiến cuộc sống của anh và muốn vẽ anh nhưng anh đã từ chối và giới thiệu với ông họa sĩ người xứng đáng hơn mình. Hết thời gian nửa giờ ngắn ngủi đến lúc họ phải chia tay nhau quyến luyến để tiếp tục cuộc hành trình của mình.

- Vị trí đoạn truyện: Đoạn truyện nằm ở giữa văn bản kể lại sự việc anh thanh niên chia sẻ với khách những suy nghĩ của mình về công việc và cuộc sống.

b. Cảm nhận:

* Luận điểm 1: Đọc đoạn trích ta thấy anh thanh niên là người sống có lí tưởng sống cao đẹp, yêu nghề:

- Hoàn cảnh sống của anh thanh niên: Anh thanh niên là 1 chàng trai hai mươi bảy tuổi. Tuổi tẻ thường thích sự đông vui, nhộn nhịp nhưng anh đã tình nguyện đến Sa Pa làm việc. Đã mấy năm nay, anh sống giữa bạt ngàn núi rừng Sa Pa quanh năm suốt tháng không một bóng người, bốn bề chỉ có cây cỏ và mây mù lạnh lẽo. Sống giữa hoàn cảnh như vậy, ta hiểu rằng anh đã nếm trải đến cùng sự cô độc, đã thử thách lòng kiên nhẫn để chiến thắng bản thân mình.

- Công việc của anh thanh niên: Công việc của anh là làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu. Cụ thể là “ đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết hàng ngày phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”.

Công việc tưởng chừng như đơn điệu, nhàm chán nhưng lại đòi hỏi sự tỉ mỉ, chính xác và tinh thần trách nhiệm cao. Công việc ấy cũng có nhiều gian khổ.

- Lòng yêu nghề của anh thanh niên

+ Công việc gian khổ là thế nhưng anh đã có suy nghĩ rất sâu sắc. Chúng ta hãy cùng lắng nghe lời tâm sự của anh với ông họa sĩ: “Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này cháu không nghĩ như vậy nữa. Vả, khi ta việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được?” Qua lời bộc bạch chân thành ấy, ta thấy được sự chuyển biến, trưởng thành trong nhận thức của anh về sự “lẻ loi”trước và sau khi vào nghề. Gắn bó với công việc, anh không còn là ngôi sao “lẻ loi một

Một phần của tài liệu Ga day them van 9 kỳ 1 (21 22) (Trang 66 - 73)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(223 trang)
w