Tạo động lực làm việc cho viên chức Khối Văn phòng, Ban tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Một phần của tài liệu Động lực làm việc của viên chức khối văn phòng, ban tại viện hàn lâm khoa học và công nghệ việt nam (Trang 37 - 48)

7. Kết cấu luận văn

1.2. Tạo động lực làm việc cho viên chức Khối Văn phòng, Ban tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

1.2.1. Quan niệm viên chức và đặc điểm viên chức Khối Văn phòng, Ban

1.2.1.1. Quan niệm viên chức và viên chức Khối Văn phòng, Ban

Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.

Từ định nghĩa trên,viên chức bao gồm những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam.

Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: Viên chức phải là người được tuyển dụng theo vị trí việc làm. Theo đó, căn cứ đầu tiên để tuyển dụng viên chức là vị trí việc làm. Ngoài ra, Điều 20 Luật Viên chức năm 2010 quy định cụ thể

30

hơn về chế độ tuyển dụng như sau: “Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập”.

Thứ ba, về nơi làm việc: Viên chức làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập. Đơn vị sự nghiệp công lập theo khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức năm 2010 được hiểu là “…tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”. Đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm:

- Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ);

- Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ).

Thứ tư, về thời gian làm việc: Thời gian làm việc của viên chức được tính kể từ khi được tuyển dụng, hợp đồng làm việc có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động.

Thứ năm, về chế độ lao động: Viên chức làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Điều đó có nghĩa giữa viên chức và bên tuyển dụng có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên… Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lí để sau này xử lí các việc liên quan đến việc vi phạm quyền hay các vấn đề khác phát sinh giữa hai bên.

Lương của viên chức được nhận từ quỹ của đơn vị sự nghiệp công lập nơi họ làm việc chứ không phải từ Nhà nước. Do vậy, tiền lương mà viên chức nhận được phụ thuộc vào sự thỏa thuận của viên chức và bên tuyển dụng, Nhà nước hầu như không can thiệp vào vấn đề này.

31

Từ khái niệm và đặc điểm về viên chức nói trên, có thể hiểu viên chức Khối Văn phòng, Ban tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là những người làm việc trong các đơn vị chuyên môn giúp việc Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam theo quy định của pháp luật.

1.2.1.2. Đặc điểm viên chức Khối Văn phòng, Ban tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Từ định nghĩa trên,viên chức Khối Văn phòng, Ban tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, là công dân Việt Nam.

Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: Viên chức Khối Văn phòng, Ban được tuyển dụng theo vị trí việc làm.

Thứ ba, về nơi làm việc: Viên chức làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập mà cụ thể là làm việc tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Thứ tư, về thời gian làm việc: Thời gian làm việc của viên chức Khối Văn phòng, Ban được tính kể từ khi được tuyển dụng, hợp đồng làm việc có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động.

Thứ năm, về chế độ lao động: Viên chức làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam theo quy định của pháp luật.

1.2.1.3. Chức trách, nhiệm vụ của viên chức Khối Văn phòng, Ban

*) Chức trách, nhiệm vụ của viên chức Khối Văn phòng

Viên chức Khối Văn phòng có chức trách, nhiệm vụ phải nghiên cứu, tìm hiểu các văn bản pháp lý, các quy định của nhà nước để tham mưu cho lãnh đạo Văn phòng về các mặt: tiếp nhận thông tin, duy trì quan hệ giữa Viện Hàn lâm với các cơ quan cấp trên, các đơn vị trực thuộc các ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức khác; phối hợp với các đơn vị xây dựng các đề án, dự

32

thảo văn bản trong các lĩnh vực thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng, tham gia thẩm định, góp ý các dự án, dự thảo văn bản do Chủ tịch Viện giao; thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, văn bản thuộc phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng; công tác pháp chế và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, các quy định của Chủ tịch Viện theo chức năng nhiệm vụ của Văn phòng; công tác tổng hợp, báo cáo, sơ kết, tổng kết định kỳ và đột xuất về việc thực hiện nhiệm vụ của Viện theo quy định của Nhà nước và của Viện Hàn lâm; các nhiệm vụ về công tác văn thư, lưu trữ; các nhiệm vụ quản trị công sở, phục vụ hậu cần;

quản lý nguồn kinh phí nhà nước giao, nguồn kinh phí nước ngoài tài trợ, các nguồn kinh phí khác và thực hiện công tác kế toán - tài chính theo phân cấp của Viện Hàn lâm và quy định Nhà nước; việc thực hiện quy chế làm việc và các quy chế khác của Viện Hàn lâm theo quy định; triển khai ứng dụng công nghệ thông tin và hạ tầng hệ thống mạng trong các lĩnh vực công tác của Văn phòng; thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ các lĩnh vực công tác được phân công.

*) Chức trách, nhiệm vụ của viên chức các Ban - Ban Tổ chức - Cán bộ:

Viên chức của Ban Tổ chức - Cán bộ có chức trách, nhiệm vụ phải nghiên cứu, tìm hiểu các văn bản pháp lý, các quy định của nhà nước để tham mưu cho lãnh đạo Ban về các mặt: Chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển của Viện; kế hoạch về tổ chức bộ máy, biên chế; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; việc xây dựng, quản lý và sử dụng cơ sở dữ liệu về tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, đào tạo và bồi dưỡng; thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tổ chức và cán bộ; công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Viện và các quy định về bí mật nhà nước trong công tác tổ chức, cán bộ của Viện theo quy định của Nhà nước; tổ chức và thực hiện công tác thi đua, khen thưởng và kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Nhà nước và của Viện.

33

- Ban Kế hoạch - Tài chính:

Viên chức của Ban Kế hoạch - Tài chính có chức trách, nhiệm vụ phải nghiên cứu, tìm hiểu các văn bản pháp lý, các quy định của nhà nước để tham mưu cho lãnh đạo Ban về các mặt: Các giải pháp, chính sách nhằm tạo động lực thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ của Viện; việc quản lý, hướng dẫn thực hiện kế hoạch khoa học, công nghệ dài hạn và hàng năm của Viện; thẩm định tài chính; đăng ký, tuyển chọn, xét duyệt, thẩm định nội dung, đánh giá và nghiệm thu đối với các đề tài, dự án hợp tác khoa học công nghệ cấp Viện với nước ngoài theo quy định của Nhà nước và của Viện;

đăng ký, tuyển chọn, xét duyệt, thẩm định nội dung, đánh giá và nghiệm thu đối với các nhiệm vụ, dự án về ứng dụng và triển khai công nghệ theo quy định của Nhà nước và của Viện; việc phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan quản lý các đề tài, dự án khoa học công nghệ cấp Nhà nước, các nhiệm vụ thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ điều tra cơ bản và quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường và các nhiệm vụ khoa học, công nghệ khác do Viện chủ trì thực hiện; công tác quản lý ngân sách, kinh phí; việc quản lý và hướng dẫn thực hiện kế hoạch đầu tư xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ gồm các nhiệm vụ: xây dựng cơ bản, tăng cường cơ sở trang thiết bị, sửa chữa nâng cấp cơ sở làm việc trong toàn Viện và quản lý đất đai, công sản, tài sản, cơ sở, trang thiết bị, vật tư thuộc sở hữu của Viện theo quy định của Nhà nước và của Viện; giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý.

- Ban Ứng dựng và Triển khai công nghệ

Viên chức của Ban Ứng dựng và Triển khai công nghệ có chức trách, nhiệm vụ phải nghiên cứu, tìm hiểu các văn bản pháp lý, các quy định của nhà nước để tham mưu cho lãnh đạo Ban về các mặt: Kế hoạch 5 năm và hàng năm về hoạt động ứng dụng và triển khai công nghệ của Viện; phương hướng, nhiệm vụ, cơ chế, biện pháp nhằm tăng cường công tác ứng dụng, triển khai, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa các sản phẩm khoa học và công

34

nghệ của Viện theo quy định của Nhà nước và của Viện; các hoạt động ứng dụng và triển khai công nghệ của Viện; việc phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương và các đơn vị triển khai các hoạt động ứng dụng và triển khai công nghệ của Viện theo quy định của Nhà nước và của Viện; việc tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ, dự án về ứng dụng và triển khai công nghệ theo quy định của Nhà nước và của Viện; việc quản lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tư vấn và dịch vụ khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ của các đơn vị trực thuộc theo quy định của Nhà nước và của Viện; kế hoạch thực hiện các dự án hợp tác với nước ngoài về ứng dụng, triển khai, chuyển giao công nghệ; việc hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các đơn vị trực thuộc về công tác ứng dụng và triển khai công nghệ theo quy định của Nhà nước và của Viện.

- Ban Hợp tác quốc tế:

Viên chức của Ban Hợp tác quốc tế có chức trách, nhiệm vụ phải nghiên cứu, tìm hiểu các văn bản pháp lý, các quy định của nhà nước để tham mưu cho lãnh đạo Ban về các mặt: Kế hoạch 5 năm và hàng năm, các chương trình, dự án hợp tác quốc tế của Viện; việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý đoàn ra, đoàn vào và các hoạt động đối ngoại khác của Viện; việc phối hợp với Văn phòng và các đơn vị khác thuộc Viện thực hiện việc chuẩn bị nội dung, phiên dịch, lễ tân, khánh tiết để Lãnh đạo Viện đón tiếp và làm việc với các đoàn khách quốc tế ở trong và ngoài nước theo quy định; việc quản lý các hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của Viện Hàn lâm; đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện các văn bản hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ với nước ngoài; phối hợp với các đơn vị có liên quan thẩm định các văn bản, các chương trình, dự án quốc tế của các đơn vị trực thuộc; việc hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị trực thuộc trong việc thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện các cam kết, các chương trình, dự án quốc tế về khoa học và công nghệ đã ký theo quy định của Nhà nước và của Viện Hàn lâm; việc phối hợp với Ban Kế hoạch - Tài chính tham mưu giúp Chủ tịch Viện trong việc tổ chức và hướng dẫn đăng ký, tuyển chọn, xét duyệt, thẩm định nội dung, đánh

35

giá và nghiệm thu đối với các đề tài, dự án hợp tác khoa học công nghệ cấp Viện với nước ngoài theo quy định của Nhà nước và của Viện Hàn lâm; việc quản lý các đề tài, dự án khoa học công nghệ khác với nước ngoài theo quy định của Nhà nước và của Viện; việc hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các đơn vị trực thuộc về công tác hợp tác quốc tế theo quy định của Nhà nước và của Viện Hàn lâm.

- Ban Kiểm tra:

Viên chức của Ban Kiểm tra có chức trách, nhiệm vụ phải nghiên cứu, tìm hiểu các văn bản pháp lý, các quy định của nhà nước để tham mưu cho lãnh đạo Ban về các mặt: Chương trình kế hoạch công tác hàng năm của Ban Kiểm tra, kế hoạch công tác đột xuất, các báo cáo và văn bản liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ của Ban; kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định của Nhà nước và của Viện đối với các đơn vị trực thuộc; việc tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo theo quy định của Nhà nước;

việc xác minh, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Nhà nước khi được Chủ tịch Viện giao; việc hướng dẫn và giám sát các đơn vị trực thuộc trong công tác kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; việc thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và định kỳ tổng hợp báo cáo tình hình trình Chủ tịch Viện; việc hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các đơn vị trực thuộc thực hiện đúng các quy định của Nhà nước và của Viện.

1.2.2. Mục đích việc tạo động lực làm việc cho viên chức Khối Văn phòng, Ban

Tạo động lực làm việc cho viên chức Khối Văn phòng, Ban tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là việc sử dụng các biện pháp nhất định để kích thích viên chức làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả công việc tốt nhất. Tạo động lực cũng chính là tạo ra sự hấp dẫn của công việc, kết quả thực hiện công việc, của tiền lương, tiền thưởng...Để hướng hành vi của viên chức theo một quỹ đạo nhất định. Hay nói cách khác,

36

tạo động lực là các biện pháp, chính sách...tác động đến con người nhằm cho họ có động lực trong lao động.

Từ khái niệm cơ bản về tạo động lực, có thể nhận thấy mục đích của tạo động lực làm việc cho viên chức Khối Văn phòng, Ban tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam bao gồm:

Mục đích thứ nhất và cũng là mục đích quan trọng nhất của tạo động lực làm việc là khai khác, sử dụng có hiệu quả nhất, phát huy được những tiềm năng của viên chức. Khi viên chức có động lực làm việc thì họ sẽ làm việc nhiệt tình hăng say, sử dụng hết khả năng của mình, nhờ đó mà những mục tiêu của Khối Văn phòng, Ban sẽ được thực hiện với hiệu quả cao. Vì có động lực làm việc, trong quá trình làm việc, viên chức có thể phát huy hết khả năng tiềm ẩn, nâng cao những khả năng hiện có của mình, đó chính là quá trình tự hoàn thiện trong công việc.

Mục đích thứ hai của tạo động lực là tạo sự gắn bó, thu hút những viên chức giỏi về tổ chức. Bởi vì tạo động lực cho viên chức chính là làm cho họ được thỏa mãn khi làm việc cho tổ chức, khiến cho họ gắn bó và trung thành với tổ chức. Sự gắn bó nhiệt tình của họ cùng với những biện pháp tạo động lực tốt sẽ làm tăng sức cuốn hút người giỏi đến với tổ chức và điều đó càng góp phần tăng khả năng thành công của tổ chức.

Quản trị nhân lực là tất cả các hoạt động của tổ chức nhằm hình thành, sử dụng, bảo toàn và phát triển nguồn lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức. Quản trị nhân lực nhằm mục đích thực hiện hai mục tiêu căn bản, đó là đảm bảo sự phù hợp thích ứng giữa người lao động và công việc, tạo động lực nhằm khuyến khích tính sáng tạo của người lao động. Vì thế, tạo động lực có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng:

Đối với cá nhân viên chức: Tạo động lực giúp cho họ tự hoàn thiện bản thân mình, có ý nghĩa trong công việc và đối với tổ chức.

Đối với Khối Văn phòng, Ban: Tạo động lực giúp phát triển nguồn nhân lực của Khối Văn phòng, Ban. Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ

Một phần của tài liệu Động lực làm việc của viên chức khối văn phòng, ban tại viện hàn lâm khoa học và công nghệ việt nam (Trang 37 - 48)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(106 trang)