2.2. Cơ sở dữ liệu thông tin địa chính
2.2.3. Một số định hướng về xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính
Để xây dựng được một cơ sở dữ liệu địa chính, đầu tiên chúng ta phải phân tích được những nhu cầu của các đối tượng liên quan đến việc sử dụng và xây dựng cơ sở dữ liệu từ Chính phủ đến các Bộ, ngành; từ Trung ương đến địa phương và người dân. Trên cơ sở đó đề xuất một thiết kế tổng thể về thể chế, chính sách, kỹ thuật, cơ chế xây dựng, chia sẻ và cập nhật cơ sở dữ liệu.
Theo [8], Quản lý đất đai là cơ quan đầu mối xây dựng dữ liệu vĩ mô do
các cơ quan Trung ương quản lý như: số liệu về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước và các vùng kinh tế, dữ liệu đất các tổ chức, dữ liệu đất lúa cần bảo vệ nghiêm ngặt, dữ liệu đất các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, dữ liệu đất sân golf, dữ liệu về quy hoạch không gian, quy hoạch đô thị, quy hoạch giao thông, quy hoạch các công trình trọng điểm quốc gia, các công trình ngầm, dữ liệu về đất lâm nghiệp... Trong đó dữ liệu thuộc Bộ ngành nào quản lý theo chức năng thì do Bộ, ngành đó xây dựng, cập nhật nhưng được tích hợp về cơ sở dữ liệu đất đai Trung ương theo chuẩn thống nhất. Dữ liệu chi tiết đến từng thửa đất, loại sử dụng đất, chủ sử dụng đất... do các địa phương xây dựng, bảo trì, cập nhật và được tích hợp lên cơ sở dữ liệu đất đai Trung ương. Theo thiết kế chung của Bộ Tài nguyên và Môi trường kiến trúc cơ sở dữ liệu có thể thiết kế tổng thể theo mô hình kiến trúc tổng thể sau:
Hình 2.3: Kiến trúc CSDL quốc gia về tài nguyên môi trường
Với Kiến trúc tổng thể như trên có thể cho phép sử dụng các phương pháp khác nhau để khai thác thông tin từ cơ sở dữ liệu. Tuy nhiên, Cơ sở dữ
liệu đất đai chỉ là một trong các thành phần của Cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường nên để thống nhất dữ liệu Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng trình Chính phủ ban hành Nghị định 102/2008/NĐ-CP về việc thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu về tài nguyên và môi trường, ban hành 15/09/2008 trong đó quy định chi tiết danh mục dữ liệu của lĩnh vực quản lý đất đai và xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường các cấp, các ngành. Tiếp theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành thông tư 07/2009/TT-BTNMT ngày 10 tháng 7 năm 2009 về quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 102/2008/NĐ-CP trong đó quy định chi tiết hơn về chức năng nhiệm vụ của các đơn vị thu thập, quản lý và cung cấp dữ liệu trong đó có lĩnh vực quản lý đất đai.
Về tiêu chuẩn, quy trình, quy định kỹ thuật, cần xây dựng mô hình quản lý dữ liệu đất đai các cấp có kiến trúc phù hợp với đặc thù tại Việt Nam, chế độ thông tin báo cáo đồng bộ và trao đổi dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu đất đai từ cấp huyện, cấp tỉnh đến cấp Trung Ương. Chính sách này cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Tổng cục Quản lý đất đai và Cục Công nghệ thông tin theo hướng chung của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Để đảm bảo được việc tích hợp các dữ liệu đồ họa về thửa đất với dữ liệu thuộc tính về chủ sử dụng và hiện trạng sử dụng đất, các nhà nghiên cứu, quản lý và sản xuất tại Trung Ương và địa phương đã được kế thừa thành tựu của các hãng phần mềm lớn trên thế giới và cho ra đời hàng loạt các phần mềm nội địa để nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính số để đảm bảo việc tích hợp dữ liệu đồ họa về thửa đất với dữ liệu thuộc tính về chủ sử dụng và hiện trạng sử dụng đất như: FAMIS & CaDDB, CILIS, CICAD &
CIDATA, PLIS và sau này là VILIS, VNLIS, GCADAS…Hệ thống phần mềm thông tin đất đai được thiết kế là một hệ thống bao gồm nhiều mô đun liên kết với nhau để thực hiện các nhiệm vụ khác nhau trong công tác quản lý
đất đai. Hệ thống có tính phân cấp theo 04 cấp: Trung Ương, tỉnh, huyện, xã. Hệ thống thông tin đất đai quản lý điểm tọa độ, độ cao cơ sở, lưới khống chế, bản đồ địa chính, quản lý hồ sơ địa chính và đăng ký thống kê đất đai; Hệ thống hỗ trợ quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, phân hạng, đánh giá, định giá đất, hỗ trợ quản lý về thuế đất, giá trị đất và các công trình trên đất; hệ thống hỗ trợ công tác thanh tra đất đai, giải quyết tranh chấp khiếu nại tố cáo về đất đai.
Những giải pháp đó đã được cung cấp cho các khu vực địa phương công cụ rất hữu dụng để hỗ trợ tích cực trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính số, bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính và góp thêm phần rút ngắn tiến độ lập hồ sơ địa chính, đăng kí đất đai và cấp các giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất.
Có thể thấy được rằng việc ứng dụng công nghệ tin học để lập cơ sở dữ liệu đất đai dạng số đã được ứng dụng ở cơ quan Tài nguyên Môi trường cấp tỉnh và cấp huyện, các cán bộ địa chính cấp xã còn rất hạn chế, đặc biệt đối với các xã nơi vùng sâu vùng xa, vùng núi khó khăn.
Khi xây dựng hoàn thành cơ sở dữ liệu theo mô hình tập trung và kết nối liên thông giữa tỉnh – huyện – xã, cho phép các cán bộ quản lý đất đai tra cứu, cập nhật thường xuyên và cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng đất;
hình thành một hệ thống đăng ký đất đai hiện đại, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai. Mô hình dự kiến cung cấp thông tin đất đai qua tin nhắn, trang web, đăng ký đất đai trực tuyến... tiến tới việc chia sẻ thông tin cơ sở dữ liệu với các ngành khác để nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng dữ liệu cơ sở địa chính góp phần nâng cao năng lực quản lý đất đai khi cho phép thực hiện quy trình thủ tục nhanh chóng và dễ dàng hơn; các khâu được tự động hóa, giảm nhẹ áp lực công việc của người làm công tác xử lý hồ sơ. Từ đó, giảm thời gian xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ đăng ký đất đai tốt hơn cho người sử dụng đất. Hệ
thống được hiện đại hóa dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, tạo điều kiện cho công tác quản lý đất đai được dễ dàng và minh bạch hơn.
Với cơ sở dữ liệu được xây dựng người sử dụng đất được cấp mới hoặc cấp đổi giấy chứng nhận cho từng thửa đất mà không phải nộp các khoản chi phí cho việc đo đạc, cấp đổi, cấp lại; trên giấy chứng nhận có các thông tin theo đúng quy định pháp luật, thể hiện chi tiết kích thước các cạnh thửa đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch đất đai, giảm bớt tình trạng tranh chấp, nhất là tranh chấp về ranh giới. Bằng việc cấp đổi giấy chứng nhận có ghi tên vợ/chồng, dự án đã đóng góp rất quan trọng trong bảo vệ, thiết lập quyền bình đẳng trong sử dụng đất. Người dân địa phương sẽ được tiếp cận với dịch vụ đăng ký đất đai theo một trình tự, thủ tục đơn giản, từ đó giảm bớt chi phí gián tiếp.Thời gian thụ lý giải quyết hồ sơ đất đai của các tổ chức liên quan cũng đã giảm từ 3 - 5 ngày mỗi thủ tục.