Nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp ở dạng thiết kế hỗn hợp khám phá, cụ thể:
Phần nghiên cứu định tính: được tác giả sử dụng để xác định các nhân tố tác động đến CLTT BCTC; xây dựng, hoàn thiện thang đo CLTT BCTC và thang đo các nhân tố tác động đến CLTT BCTC. Nghiên cứu này được thực hiện bằng nghiên cứu tình huống với công cụ được sử dụng là thảo luận tay đôi và thảo luận nhóm với đại diện của Vụ Chế Độ KT-Kiểm toán Việt Nam; các đối tượng là nhà đầu tư đồng thời đảm trách công việc quản lý KT, KSNB, quản lý công nghệ thông tin (IT), lãnh đạo, kiểm toán tại các DN; các giảng viên đại học tại TP.HCM có kinh nghiệm nghiên cứu và chuyên môn về KT.
Phần nghiên cứu định lƣợng: giúp đo lường CLTT BCTC và các nhân tố tác động đến CLTT BCTC; kiểm định tác động của các nhân tốđến CLTT BCTC thông qua các phép
kiểm định thích hợp; đo lường mức độ tác động của các nhân tốđến CLTT BCTC bằng mô hình hồi qui; tìm hiểu sự khác biệt về mức độ tác động của các nhân tố đến CLTT BCTC giữa các nhóm DN. Nghiên cứu này được thực hiện bằng phương pháp khảo sát với công cụ được sử dụng là phỏng vấn trực tiếp, gửi thư, internet chủ yếu cho các đối tượng phụ trách KT của các DN tại Việt Nam.
4. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu: chất lượng thông tin BCTC và các nhân tố tác động đến CLTT BCTC trong các DN tại Việt Nam.
Phạm vi: đề tài được giới hạn trong phạm vi các DN phi tài chính tại Việt Nam (không nghiên cứu các doanh nghiệp tài chính như ngân hàng, tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư).
5. CÁC ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN Luận án đã có những đóng góp như sau:
Về khía cạnh lý thuyết: hoàn thiện lý thuyết về CLTT KT nói chung và CLTT BCTC nói riêng:
Xác định 10 nhân tốtác động đến CLTT BCTC phù hợp với các DN tại Việt Nam bằng nghiên cứu định tính lẫn định lượng. Trong đó có 2 nhân tố mang đặc thù riêng của các DN Việt Nam, chưa được đưa vào các nghiên cứu trước đó.
Xây dựng thang đo và đo lường CLTT BCTC trong các DN Việt Nam theo hướng tiếp cận toàn diện quan điểm về thành phần và cấp bậc của khái niệm CLTT BCTC được ban hành bởi FASB & IASB 2010
Qua phân tích hồi qui, tác giả đã xác định mô hình hồi qui tuyến tính tối ưu với 8 nhân tốtác động đến CLTT BCTC, trong đó có hai nhân tốđặc thù riêng của nghiên cứu này là Áp lực về thuế và CL phần mềm kế toán (PMKT). Bên cạnh đó, kết quả của luận án giúp khẳng định kết quả của các nghiên cứu trước thông qua 6 nhân tố còn lại. Ngoài ra, nghiên cứu cũng nêu rõ sự khác biệt về đặc điểm niêm yết và quy mô DN có làm thay đổi mức độtác động của các nhân tốđến CLTT BCTC.
Về khía cạnh ứng dụng: nghiên cứu là một căn cứ có giá trị để giúp đánh giá thực trạng CLTT BCTC trong các DN Việt Nam hiện nay bằng những con số định lượng. Bên cạnh đó, thông qua kết quả từ kiểm định và mô hình hồi qui, nghiên cứu còn giúp xác định và điều tiết các nhân tố góp phần làm gia tăng CLTT BCTC, cụ thể:
Đối với các nhân tố bên trong DN như Hỗ trợ từ phía nhà quản trị, Năng lực nhân viên KT, Đào tạo và bồi dưỡng nhân viên, Hiệu quả của HTKSNB (Hệ thống kiểm soát nội bộ), Hành vi quản trị lợi nhuận, CL PMKT, nghiên cứu là một căn cứ để giúp các DN nhận diện và thực hiện các giải pháp đểgia tăng CLTT BCTC thông qua việc kiểm soát các nhân tốnày. Riêng đối với nhân tố Hành vi quản trị lợi nhuận, nghiên cứu còn là căn cứ để Nhà Nước, các bên chủ sở hữu DN nhìn nhận hành vi của các nhà quản lý trong các DN có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý và thấy được tác động của nó đến CLTT BCTC từđó đưa ra những quy định Pháp lý, những giải pháp quản lý phù hợp nhằm gia tăng CLTT BCTC.
Đối với khám phá từ các nhân tố như Áp lực từ thuế, Kiểm toán độc lập, Niêm yết, nghiên cứu giúp ngành thuế nhìn nhận lại cách thức, vai trò của mình khi làm việc tại các DN; khẳng định vai trò quan trọng của Kiểm toán độc lập đối với CLTT BCTC; của UBCKNN khi quản lý và giám sát CLTT BCTC của các DN niêm yết.
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Luận án có kết cấu bao gồm 5 chương:
Phần mởđầu: trình bày thực trạng, vai trò của CLTT BCTC đối với sự tồn tại và phát triển của các tổ chức trong thời đại thông tin hiện nay. Dựa trên nền tảng này, vấn đề nghiên cứu của đề tài được tác giảxác định. Bên cạnh đó, thông qua việc trình bày những hạn chế trong nghiên cứu về CLTT BCTC, tác giả xác định mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Chương này cũng giới thiệu tổng quát phương pháp nghiên cứu được sử dụng.
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: chương này trình bày các nghiên cứu có liên quan đến đánh giá CLTT BCTC và các nhân tố tác động đến CLTT BCTC. Trên cơ sở đó,
tác giảđánh giá những thành quả và hạn chế của các nghiên cứu trước. Các nội dung được trình bày ở chương này tạo một căn cứ vững chắc, giúp khẳng định khe hổng nghiên cứu; sự cần thiết của nội dung nghiên cứu; sự phù hợp của phương pháp nghiên cứu được sử dụng.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết: chương này làm rõ các khái niệm chính yếu và cơ sở lý thuyết có liên quan đến nghiên cứu tạo nền tảng giải thích mối quan hệ giữa các nhân tố và CLTT BCTC.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: trình bày phương pháp nghiên cứu và những luận cứ thuyết phục vụ cho việc sử dụng các phương pháp này. Kế tiếp, luận án trình bày một cách chi tiết, thông qua các lưu đồ, bảng biểu, các bước công việc cụ thể cho phần nghiên cứu định tính và định lượng.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: phân tích và trình bày kết quả của nghiên cứu định tính và định lượng. Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach alpha; kiểm định giá trị thang đo thông qua phân tích nhân tố khám phá EFA được xác định. Chương này còn trình bày kết quả kiểm định tác động của các nhân tố đã được khám phá ở phần nghiên cứu định tính đối với CLTT BCTC và đo lường tác động của các nhân tố này thông qua mô hình hồi qui bội MLR .
Chương 5: Kết luận và kiến nghị: trình bày những kết luận và kiến nghị chính yếu của nghiên cứu. Từng câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu được giải quyết thông qua luận giải trên cơ sở lý thuyết nền kết hợp với kết quả phân tích có được ở chương 4. Chương này còn trình bày những đóng góp của nghiên cứu trên những khía cạnh: nghiên cứu và thực tiễn. Kết thúc chương, những hạn chếvà phương hướng nghiên cứu kế tiếp được xác định.
Phần Danh mục công trình của tác giảđã công bố liên quan đến luận án Phần Danh mục tài liệu tham khảo
Phần Phụ
CHƯƠNG 1. T Ổ NG QUAN V Ề V ẤN ĐỀ NGHIÊN C Ứ U
Nội dung chính yếu của chương là trình bày tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đánh giá CLTT BCTC, các mô hình nghiên cứu về các nhân tố tác động đến CLTT BCTC.
Mục tiêu chương giúp cung cấp những luận giải cần thiết của đề tài và tạo nền tảng đểđề tài có thể kế thừa vềcơ sở lý thuyết, các phương pháp và kết quả nghiên cứu. Bên cạnh đó, tổng quan các nghiên cứu còn giúp tác giả tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển các hướng nghiên cứu, từđó xác định khe hổng nghiên cứu và đưa ra định hướng cho nghiên cứu này.
Phác thảo nội dung nghiên cứu trình bày theo Sơ đồ (SĐ) 1.01.
SĐ 1.01: Phác thảo nghiên cứu chương 1 1.1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƢỢNG THÔNG TIN BCTC 1.1.1. CÁC BƯỚC CÔNG VIỆC
Nghiên cứu về CLTT đã được đề cập từ những năm 60 (Mouzhi Ge, 2009), được xem
là một nhánh của nghiên cứu về Hệ thống thông tin (HTTT) và được phân thành hai lĩnh vực chủ yếu: thông tin quản lý và thông tin KT (Mouzhi Ge, 2009; Pamela & Jack, 2011). Xuất phát từ phạm vi nghiên cứu, tác giảchỉ quan tâm đến lý thuyết về CLTT trong lĩnh vực KT, cụ thể là trên BCTC.
Đầu tiên, tác giả sẽ trình bày tổng quan các hướng nghiên cứu về CLTT BCTC. Sau đó, tác giả sẽ trình bày các khuôn mẫu, nghiên cứu vềđánh giá CLTT BCTC. Phần tiếp theo, tác giảrút ra xu hướng phát triển của nghiên cứu tạo nền tảng cho việc đề xuất khuôn mẫu đánh giá CLTT BCTC ở chương 3.
SĐ 1.02: Phác thảo các bước công việc tìm hiểu các nghiên cứu về CLTT BCTC 1.1.2. TỔNG QUAN CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ CLTT BCTC
Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu về CLTT BCTC là tìm hiểu phương thức xác định và đánh giá CLTT BCTC (Geert Braam & Ferdy van Beest, 2013 ;Andra Gajevszky, 2015).
Tùy thuộc vào đặc điểm, mục tiêu nghiên cứu, có nhiều cách thức khác nhau được sử dụng đểđánh giá CLTT BCTC (Yijiang Zhao, 2005; Andra Gajevszky, 2015), cụ thể:
PHƯƠNG PHÁP THỨ NHẤT
Nội dung: Phương pháp này sử dụng lợi nhuận (Reported Earnings) như là đại diện cho CLTT BCTC, thông qua đánh giá CL của lợi nhuận trên BCTC để suy ra kết luận về CL của BCTC. Các tác giả xem xét các Hành vi quản trị lợi nhuận (Earnings management) ảnh hưởng tới CL của lợi nhuận trên BCTC như thế nào. Kết luận rút ra từ nghiên cứu là hành vi này ảnh hưởng tiêu cực tới CL của lợi nhuận từ đó làm giảm CL của BCTC. Các nghiên cứu tiêu biểu là Healy & Wahlen (1999); Dechow & ctg (1995), …
Ƣu điểm và hạn chế: phương pháp này có ưu điểm là có thể thu thập thông tin trực tiếp trên các BCTC của các công ty niêm yết hay trên website của các công ty. Bên cạnh đó, hạn chế
của phương pháp này là khó có thể phân biệt giữa lợi nhuận mà giám đốc DN có thể chi phối (Discretionary Earnings) và lợi nhuận mà giám đốc DN không thể chi phối (non- Discretionary Earnings). Ngoài ra, cách thức đánh giá này chỉ tập trung vào một yếu tố duy nhất là lợi nhuận đểsuy đoán CL của BCTC nên bỏ qua những yếu tố quan trọng khác trên BCTC như các thuyết minh hay thông tin phi tài chính khác.
PHƯƠNG PHÁP THỨ HAI
Nội dung: đánh giá mối quan hệ giữa số liệu lợi nhuận trên BCTC với phản ứng của thị trường chứng khoán, qua đó đo lường tính Thích hợp của thông tin trên BCTC. Dòng nghiên cứu này gồm có các nghiên cứu của Barth, Beaver, Landsman (2001); Holthausen & Watts (2001); Nichols & Wahlen (2004); Schipper & Vincent (2003). Cơ sở của các nghiên cứu này là sử dụng giá cổ phiếu làm tiêu thức đại diện cho giá trị thị trường của DN, còn số liệu trên BCTC phản ánh giá trị của DN theo các quy định của chuẩn mực KT. Khi lợi nhuận trên BCTC thay đổi mà dẫn đến sự thay đổi tương ứng trong giá cổ phiếu của DN thì có nghĩa con số lợi nhuận phản ánh được sự thích hợp của thông tin kế toán.
Ƣu điểm và hạn chế: phương pháp này có ưu điểm là đánh giá mối quan hệ giữa số liệu lợi nhuận trên BCTC với phản ứng của thịtrường chứng khoán, qua đó đo lường tính Thích hợp của thông tin trên BCTC; có thể thu thập thông tin trực tiếp trên các BCTC của các công ty niêm yết hay trên website của các công ty. Tuy nhiên hướng nghiên cứu này cũng có hạn chế là dựa trên giá cổ phiếu trong khi đó giá cổ phiếu không phải luôn phản ánh chính xác giá trị doanh nghiệp do những yếu tố khác của thịtrường chứng khoán. Bên cạnh đó, hướng nghiên cứu này cũng bỏ qua những nội dung quan trọng khác trên BCTC như các thuyết minh hay các thông tin phi tài chính trong khi chính các thông tin này cũng có khảnăng ảnh hưởng tới phản ứng của thịtrường chứng khoán.
PHƯƠNG PHÁP THỨ BA
Nội dung: phương pháp này không sử dụng lợi nhuận như là đại diện của BCTC mà tập trung vào một hay một số yếu tố cụ thể của BCTC như: CL của các công bố thông tin trên
BCTC (với các nghiên cứu của Roudaki 2011; Billings 2011; Caramanolis-Cotelli & Birgul 1999; Daske & Gebhardt 2006; Beretta & Bozzolan, 2006); tính kịp thời của việc ghi nhận các khoản lỗ (với các nghiên cứu của Leuz, Nanda & Wysocki, 2003; Barth, Landsman &
Lang 2008; Ball & Shivakumar 2005); số lần BCTC phải trình bày lại hay tổn thất giá trị thị trường do BCTC phải trình bày lại (với các nghiên cứu của Wu 2001; Hirschey, Smith &
Wilson 2012); Hirst & ctg (2004) tập trung vào tính thiết thực của giá trị hợp lý; Beretta &
Bozzolan (2004) chú ý đến CL của KSNB và rủi ro công bố thông tin; Gaeremynck &
Willekens (2003) xem xét mối quan hệ giữa báo cáo kiểm toán và quyết định hữu ích của thông tin trên BCTC.
Ƣu điểm và hạn chế: những nghiên cứu này tuy sử dụng những thông tin phi tài chính hay các thuyết minh BCTC để thông qua đó đánh giá CL BCTC nhưng vẫn không khắc phục được nhược điểm là dùng một yếu tố của BCTC để tổng quát hóa cho toàn bộ BCTC. Ngoài ra, hai đặc điểm CL cơ bản của BCTC là tính Thích hợp và Trình bày trung thực chưa được xem xét một cách cụ thể.
PHƯƠNG PHÁP THỨ TƯ
Nội dung: đánh giá CLTT BCTC dựa trên các thuộc tính về CLTT được quy định bởi các tổ chức nghề nghiệp (IFRS Framework, FASB Conceptual Framework) hoặc của Nhà nước về KT (Tổng hoạch đồ KT Pháp, Luật Thương mại Pháp). Vận dụng trong nghiên cứu, cách thức này có hai hướng tiếp cận: đánh giá CLTT BCTC thông qua đo lường một số thuộc tính đại diện cho CLTT hoặc theo hướng đo lường toàn bộ các thuộc tính về CLTT. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này bao gồm các nghiên cứu của Jonas Gregory J & Blanchet Jeannot (2000); Ferdy van Beest & ctg (2009); Geert Braam & Ferdy van Beest (2013).
Ƣu điểm và hạn chế: Phương pháp này có ưu điểm là đo lường CLTT BCTC một cách trực tiếp nhưng cũng có hạn chế là việc đo lường và đánh giá gặp nhiều khó khăn do dữ liệu thường phải được thu thập một cách trực tiếp.
Tổng quan cho thấy phương pháp đánh giá CLTT BCTC đa dạng, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn đánh giá CLTT BCTC theo phương pháp dựa trên các thuộc tính về CLTT (phương pháp thứtư) với lý do sau đây:
Cả ba phương pháp đầu tiên đều có hạn chế là dùng một yếu tố của BCTC để tổng quát hóa cho toàn bộ BCTC mà bỏ qua nhiều thuộc tính CLTT cơ bản khác. Phương pháp thứ tư cho phép tiếp cận toàn diện các thuộc tính về CLTT, đảm bảo việc đánh giá và đo lường CLTT BCTC được đầy đủ và thuyết phục hơn.
Các nghiên cứu theo ba phương pháp đầu tiên đều hướng đến đối tượng là các DN Niêm yết. Trong khi đó, một trong những mục tiêu nghiên cứu của luận án là tìm hiểu tác động của quy mô DN và nhân tố Niêm yết đến CLTT BCTC, vì vậy đối tượng khảo sát phải đảm bảo có sự hiện diện của DN nhỏ, vừa, lớn; niêm yết và chưa niêm yết. Điều này cho thấy đánh giá CLTT BCTC theo phương pháp thứtư là phù hợp với đặc điểm và mục tiêu nghiên cứu của luận án.
Ở nội dung kế tiếp, tác giảtrình bày các phương pháp đánh giá CLTT BCTC thông qua các thuộc tính về CLTT. Việc tìm hiểu và giải thích các mô hình đo lường CLTT theo các phương pháp còn lại không thuộc nội dung nghiên cứu chuyên sâu của đề tài.
1.1.3. ĐÁNH GIÁ CLTT BCTC THEO CÁC THUỘC TÍNH CHẤT LƢỢNG 1.1.3.1. Tổng quan nghiên cứu vềđánh giá CLTT BCTC theo các thuộc tính CL
Vào năm1966, AAA đã công bố một báo cáo về nền tảng lý thuyết của KT- A statement of Basic Accounting Theory (Paul E. Fertig, 1967) nhằm thiết lập những điều cơ bản của lý thuyết KT. Trong báo cáo này, AAA cho rằng tính Hữu ích (Usefulness), được xác định bởi người sử dụng là tiêu chí đểđánh giá bao quát thông tin (AAA, 1966). AAA (1966) cũng khuyến cáo rằng tính Thích hợp (Relevance), tính Có thểxác minh được (Verifiability), Không sai lệch (Freedom from bias) và Khả năng xác định sốlượng (Quantifiability) được xem như là những tiêu chuẩn để đảm bảo thông tin KT hữu ích. Như
vậy, trongnhững năm 60, sự Hữu ích của thông tin KT được xem là tiếp cận đầu tiên của nền tảng lý thuyết về CLTT BCTC. Công bố của AAA (1966) đã được ca ngợi là một bước khởi điểm cho những nghiên cứu hướng về CLTT KT sau này (Hicks 1966). Tuy nhiên công bố này vẫn còn nhiều hạn chế vì không cung cấp một danh sách đầy đủ các thuộc tính cần thiết có liên quan đến tính Hữu íchcủa thông tin KT (Snavely, 1967).
Phải đến năm 1980, FASB mớiđưa ra một công bố chi tiết về những thuộc tính cụ thể nhằm đảm bảo tính Hữu ích của thông tin BCTC (FASB, 1980). Về phía IASC, tổ chức này cũng ban hành khuôn mẫu trình bày các thuộc tính CLTT BCTC vào năm 1989 và khuôn mẫu này được chỉnh sửa vào năm 2001 (IASB, 2001) khi tổ chức này được thay thế bởi IASB vào cùng thời điểm trên.
Nghiên cứu về tính Hữu ích của thông tin BCTC tiếp tục được phát triển bởi FASB và IASB theo thỏa thuận Norwalkđược ký kết giữa hai tổ chức này vào năm 2002 bằng sự ban hành các thuộc tính về CLTT BCTC vào các năm 2006 và 2010. Theo Laughlin (2007), tính Hữu ích của thông tin BCTC vẫn tiếp tục là một chủ đề được đề cập và là một nội dung được nhấn mạnh trong các công bố của FASB và IASB về khuôn mẫu khái niệmcủa mình.
Bên cạnh các tổ chức nghề nghiệp, các thuộc tính CLTT BCTC cũng được đề cập từ phía các cơ quan Nhà Nước như Luật Thương Mại Pháp (Code de Commerce); Tổng hoạch đồ Kế toán Pháp (PCG); Luật Kế toán Việt Nam (Quốc Hội 2003, 2015),…
Các thuộc tính về CLTT BCTC được ban hành bởi các tổ chức nghề nghiệp và các cơ quan Nhà Nước đã tạo một nền tảng vững chắc về cơ sở lý thuyết cho các nghiên cứu cơ bản có liên quan đến đánh giá, đo lường CLTT BCTC (Céline Michailesco, 2010).
1.1.3.2. Các thuộc tính đánh giá CLTT từ các tổ chức nghề nghiệp KHUÔN MẪU CỦA FASB
Các thuộc tính về CLTT được FASB ban hành trong khuôn mẫu các khái niệmvề KT vào năm 1980 (Carmichael, 1980; Cheri L. Reither, 1997). Mặc dù các khuôn mẫu này đã được FASB chỉnh sửa và bổ sung nhiều lần sau đó, các thuộc tính về CLTT vẫn không thay