Nâng cao CL nguồn nhân lực kế toán- kiểm toán

Một phần của tài liệu LA01 048 cac nhan t tac dng dn cht l (Trang 175 - 178)

5.2.5.1. Luận bàn vềtác động của Năng lực nhân viên KT đối với CLTT BCTC

Kết quả phân tích hồi qui cho cho thấy nhân tố này tác động đến CLTT BCTC với β=0,137. Khi xét tác động của biến điều tiết, nhân tố này tác động đến CLTT BCTC của nhóm DN chưa niêm yết và DN nhỏ. Điều này cho thấy năng lực nhân viên kế toán hiện nay tuy đã đáp ứng được nhu cầu trong các DN niêm yết; các DN vừa và lớn nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong nhóm các DN còn lại. Mối quan hệ giữa nhân tố này và CLTT BCTC được lý giải thông qua lý thuyết Sự khuếch tán kỹ thuật, quan điểm TQM. Theo đó, chính sự thiếu sót về kỹ năng con người đã dẫn đến việc vắng mặt chiến lược về thông tin KT trong các DN và điều này làm ảnh hưởng đến CLTT BCTC được cung cấp đó (Ballantine & ctg, 1998, theo Noor Azizi Ismail 2009). Kết quả khảo sát cho thấy nếu nhân viên KT có sự am hiểu về chuẩn mực, chếđộ kế toán và có khảnăng vận dụng các quy định này vào trong thực tiễn thì sẽ góp phần gia tăng CLTT BCTC. Kết quả phân tích thống kê (SĐ 5.15) cũng như tác động của các biến điều tiết cho thấy năng lực nhân viên KT nhìn chung chưa cao, chỉđáp ứng được yêu cầu công việc đối với các DN niêm yết; vừa và lớn và cần phải được hoàn thiện đối với các nhóm DN còn lại.

Ghi chú:

NL1MH: NV KT am hiểu rõ chuẩn mực & chế độ KT NL2MH: NVKT có năng hiểu & vận dụng quy định KT vào thực tế

NL3MH : NV KT am hiểu rõ quy trình, đặc điểm SXKD của đơn vị

NL4MH: NV KT am hiểu rõ bản chất nghiệp vụ kinh tế của đơn vị

SĐ 5.15: Kết quảđo lường nhân tốNăng lực nhân viên kế toán và 4 nội dung cấu thành giá trị của nó (Nguồn: số liệu khảo sát thực tế 2015)

5.2.5.2. Các giải pháp gia tăng CL nguồn nhân lực KT và kiểm toán

Xuất phát từ vai trò và thực trạng của năng lực nhân viên KT hiện nay, tác giả đề ra các giải pháp sau:

Nâng cao CL đào tạo chuyên ngành KT & kiểm toán: cần nhìn nhận một thực tế là CL đào tạo Ngành KT- kiểm toán từ các trường đại học, cao đẳng tại Việt Nam hiện nay chưa thỏa mãn nhu cầu sử dụng lao động của các DN, chủ yếu là về khía cạnh CL (La, 2011).

Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải nâng cao CL giảng dạy đối với chuyên ngành KT- kiểm toán tại các tổ chức đào tạo Việt Nam hiện nay thông qua các giải pháp sau:

Xây dựng chương trình đào tạo đạt chuẩn: theo Bộ Tiêu chuẩn AUN-QA của mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á, chương trình đào tạo phải được thiết kế bởi nhóm người: đại diện của bộ phận CL, hội đồng khoa học, đội ngũ làm chương trình, sinh viên và các đối tượng có liên quan trong các lĩnh vực đào tạo, chính phủ, và các tổ chức nghề nghiệp. Bên cạnh đó, chương trình đào tạo cần được thẩm định và đánh giá tính hiệu quả định kỳ, cần được điều chỉnh sau khi đã được sử dụng trong một thời gian hợp lý.

Nâng cao CL đội ngũ giảng viên: giảng viên phải là người có khảnăng nghiên cứu, phát triển ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ, bảo đảm CL đào tạo; có khảnăng học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp giảng dạy (Quốc Hội, 2012). Đối với đội ngũ giảng viên chuyên ngành KT- kiểm toán, nhằm đạt được các tiêu chí về CL nêu trên, tác giả kiến nghị quy định của Nhà Nước, của nhà trường cần khuyến khích, tạo điều kiện cho các giảng viên tham gia vào công việc thực tế tại các DN để nâng cao kỹnăng và tiếp cận thực tế nghề nghiệp. Nhà Nước cần cho phép các giảng viên tham gia hành nghề Kiểm toán viên độc lập. Bên cạnh đó cần xem xét nguồn gốc bằng cấp của giảng viên và “nói không” đối với những bằng cấp được cấp từ những cơ sở đào tạo không có CL, uy tín.

Cần đề cao vai trò, trách nhiệm của Hiệp hội nghề nghiệp: Hội KT và kiểm toán Việt Nam (VAA) cần thể hiện vai trò và trách nhiệm của mình trong việc cải thiện CL nguồn nhân lực KT, cụ thể:

Cần tăng cường kiểm soát CL thông qua việc trợ giúp, tư vấn cho KT các DN làm đúng theo chế độ, chuẩn mực. Cần lập đường dây liên lạc hiệu quả nhằm giải đáp các thắc mắc của các DN gặp khó khăn trong vấn đề xử lý công tác KT.

Cần đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá về nghề nghiệp và hành nghề KT giúp họ nhận thức đúng về hành nghề, lợi ích và xu hướng phát triển, khuyến khích nâng cao trình độ và tham gia thi lấy chứng chỉ hành nghề. VAA cần khuyến nghị với Bộ Tài chính tổ chức nhiều kỳthi trong năm, mở thêm điểm thi ở các thành phố lớn nhằm tạo điều kiện thuận lợi để nhiều người được tham gia kỳ thi.

Nâng cao ý thức, trách nhiệm của người học và người hành nghề: việc cố gắng có được bằng tốt nghiệp đại học ở mọi loại hình đào tạo (chính quy, tại chức, đào tạo từ xa) đang là xu hướng của nhiều người hiện nay. Một sốlượng người học chỉchú ý đến mục tiêu đạt được bằng cấp mà không chú ý đến khả năng tiếp thu, điều kiện học tập của mình. Từ thực trạng trên, tác giả kiến nghị vềphía người học như sau:

Cần xác định rõ điều kiện học và khả năng tiếp thu của mình để lựa chọn cấp bậc phù hợp. Không nên quan điểm học chỉ cần bằng cấp mà không chú ý đến CL đạt được.

Cần tham khảo nghiêm túc mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra của chương trình học. Đối với những đối tượng học bị hạn chế về khả năng tiếp thu và điều kiện học, chỉ chọn chương trình học theo hướng thực hành hoặc chọn những cấp bậc học thấp hơn như trung cấp, cao đẳng.

5.2.6. NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HTKSNB NHẰM GIA TĂNG CLTT BCTC.

Một phần của tài liệu LA01 048 cac nhan t tac dng dn cht l (Trang 175 - 178)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(206 trang)