Mô hình hồi qui cho thấy nếu hiệu quả của HTKSNB tăng thêm 1 điểm thì CL BCTC tăng lên 0,130 điểm. Khi xét tác động của biến điều tiết, nhân tố này tác động đến CLTT BCTC của tất cả các nhóm DN, ngoại trừ nhóm các DN nhỏ (điều này được ý giải là đa phần các DN nhỏ tại Việt Nam hiện nay chưa chú trọng đến vai trò của HT KSNB tại DN mình).
Mối quan hệ này được nhiều nhà nghiên cứu trước đó giải thích trên cơ sở lý thuyết Đại diện. Chính thông tin bất tương xứng và lợi ích cá nhân đã ngăn cản sự hợp tác giữa người ủy quyền và người đại diện. Constant Djama (2010); George Emmanuel Iatridis (2011),…
cho rằng KT được xem là một đòn bẩy quyền lực để thực hiện Hành vi tư lợi của nhà quản
lý. Để giải quyết mâu thuẫn này, cần thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người đại diện. Phân tích thống kê về hiệu quả hoạt động của HTKSNB trong các DN Việt Nam (SĐ 5.16) cho thấy các nội dung đo lường đều được đánh giá ở mức độ chưa cao, hiệu quả giám sát các hoạt động của HTTT KT từ phía KSNB giúp ngăn ngừa hiệu quả các gian lận và sai sót cũng như đảm bảo CLTT BCTC vẫn còn hạn chế.
Ghi chú:
KSNB1: Đơn vị có thiết lập các quy định và thủ tục kiểm soát nhằm đảm bảo DN tuân thủ pháp luật KSNB2: KSNB tại đơn vị giúp ngăn ngừa hiệu quả các gian lận và sai sót
KSNB3: KSNB tại đơn vị giám sát thường xuyên hoạt động của HTTT kế toán
KSNB4: KSNB luôn kiểm tra và giám sát việc đảm bảo chất lượng TT kế toán
SĐ 5.16: Kết quảđo lường hiệu quả hoạt động của HTKSNB và 4 nội dung cấu thành giá trị của nó (Nguồn: số liệu khảo sát thực tế 2015)
5.2.6.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả của HT KSNB nhằm gia tăng CLTT BCTC
Giải pháp từ phía DN: theo COSO (1992), bất kỳHT KSNB nào cũng bao gồm những bộ phận cơ bản: môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; hoạt động kiểm soát; thông tin và truyền thông; giám sát. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả HTKSNB cần thực hiện các giải pháp:
Hoàn thiện môi trường kiểm soát: Các nhà quản trị bao gồm các nhà điều hành hoạt động DN cần định hướng rõ vai trò và quan điểm của mình đối với CLTT BCTC; am hiểu và kiểm soát được thông tin tài chính của đơn vị mình; xác định rõ tầm quan trọng trong việc nâng cao CLTT BCTC và xây dựng một môi trường văn hóa chú trọng đến sự liêm chính, đạo đức nghề nghiệp, thực hiện nghiêm túc việc tuân thủcác qui định chếđộ hiện hành về KT.
Thực hiện đánh giá rủi ro:các DN cần thường xuyên xác định rủi ro hiện hữu và tiềm tàng làm phương hại đến CLTT BCTC. Phân tích ảnh hưởng của chúng, xác định tần
suất xuất hiện và đề ra các biện pháp để quản lý và giảm thiểu tác hại của chúng bằng cách tăng cường việc sử dụng HTKSNB nhằm làm giảm khả năng xuất hiện hoặc tác động của rủi ro đến CLTT BCTC.
Thực hiện hoạt động kiểm soát:những hoạt động kiểm soát có thể được gộp thành hai nhóm chính đó là kiểm soát phòng ngừa và kiểm soát phát hiện. Kiểm soát phòng ngừa được thể hiện ở việc thiết lập những chính sách và thủ tục mang tính chuẩn mực, phân công trách nhiệm hợp lý và ủy quyền, phê duyệt. Kiểm soát phát hiện được thể hiện dưới dạng thực hiện báo cáo đặc biệt, đối chiếu hay kiểm tra định kỳ.
Thiết lập HTTT và truyền thông: HTTT của DN cần đảm bảo cho nhân viên ở mọi cấp độ đều có thể hiểu và nắm rõ các nội quy, chuẩn mực của tổ chức, đảm bảo thông tin được cung cấp kịp thời, chính xác đến các cấp có thẩm quyền theo quy định. Cần phải thiết lập các kênh thông tin hiệu quả cho phép nhân viên báo cáo về các hành vi, sự kiện bất thường có khả năng gây thiệt hại cho DN. Thực hiện lắp đặt hệ thống bảo vệ, theo dõi, giám sát truy cập dữ liệu nhằm phòng ngừa những rủi ro ảnh hưởng đến đảm bảo an toàn thông tin, dữ liệu nhất là thông tin KT.
Thực hiện giám sát: đây là quá trình theo dõi và đánh giá CL KSNB để đảm bảo việc kiểm soát được triển khai, điều chỉnh và cải thiện liên tục. Để việc giám sát có hiệu quả, DN cần có có hệ thống báo cáo cho phép phát hiện các sai lệch so với chỉ tiêu, kế hoạch đã định. Bên cạnh đó, những khiếm khuyết của HTKSNB; gian lận; nghi ngờ gian lận;
các vi phạm nội quy, quy định của DN cũng như quy định của luật pháp hiện hành cần được báo cáo trực tiếp và kịp thời với cấp phụtrách cao hơn, kể cảban lãnh đạo để điều chỉnh đúng lúc, kịp thời. Việc giám sát, đánh giá hiệu quảHTKSNB thường được thực hiện bởi KTNB (Nguyễn, 2010). Bộ phận KTNB hữu hiệu sẽ giúp cho DN có được những thông tin kịp thời và và xác thực về các hoạt động trong DN, CL của hoạt động KSNB nhằm kịp thời điều chỉnh và bổ sung các qui chế kiểm soát thích hợp và hiệu quả (Nguyễn, 2010). Để hoạt động hiệu quả, KTNB là bộ phận trực thuộc nhà quản lý giúp
cho nhà quản lý điều hành công ty mình và có sự độc lập với các bộ phận khác trong đơn vị, chỉ chịu trách nhiệm trước ban giám đốc về công việc của mình.
Giải pháp từ phía cơ quan Nhà Nước: Bộ Tài chính cần quy định rõ trách nhiệm của bộ phận quản lý trong các công ty niêm yết trong việc thiết lập và duy trì hoạt động hữu hiệu của hệ thống KSNB; trách nhiệm đánh giá và giải trình hiệu quả hoạt động của KSNB vào cuối mỗi niên độ KT.