CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.4. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong cross- docking tại các doanh nghiệp
Ở thời điểm hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp đã có được một nhận thức đúng đắn hơn về tầm quan trọng của chuỗi cung ứng và Cross-docking. Họ nhận ra ở đây không chỉ vì những thuận lợi mà Cross-docking đem lại mà còn là việc Cross-docking là một chìa khóa quan trọng vươn đến tương lai, vươn đến sự cạnh tranh tuyệt đối với các doanh nghiệp khác.
Trong xu thế vận chuyển hàng hóa ngày càng nhanh của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Để được có bảo đảm áp dụng thành công nhất về Cross-docking. Điều ta cần phải quan tâm chú trọng nhất là thời gian kịp lúc. Vì vậy công nghệ đã được áp dụng vào Cross- docking nhằm vào việc thực hiện hiệu quả hơn về tất cả các tiêu chí. Đầu tiên ta sẽ nói về công nghệ ứng dụng RFID- công nghệ nhận dạng hàng hóa bằng tần số radio
Hiện tại, có 3 trang thẻ RFID được trang bị trong quy trình hậu cần: thẻ hoạt động,
Để cải thiện việc truyền dữ liệu với thiết bị ghi thẻ RFID, người giữ thẻ RFID kết hợp một chốt. Theo các quy tắc, phạm vi hoạt động của thẻ RFID tích cực có thể đạt 100 mét tùy thuộc vào nguồn điện mà quốc gia sử dụng. Để tránh bị theo dõi đọc, thẻ này thường có dung lượng bộ nhớ lớn lên đến 32 Kb. Chủ thẻ sở hữu thẻ có cảm biến và điều hướng.
Các ứng dụng như định vị GPS. Ngay cả khi chủ thẻ bán hàng có ghim, chúng không được sử dụng để cải thiện việc trao đổi dữ liệu. Chỉ cảm biến hoặc bộ nhớ được kích hoạt bằng cách sử dụng chân này. Đối với các hệ thống cấp cao và các thùng chứa khác bên trong các thùng chứa hàng hải, các thẻ thông thường thường được sử dụng.
Ngày nay, công nghệ "RFID" không còn là một ý tưởng mới lạ ở Việt Nam khi được ứng dụng trong kho hàng, đặc biệt là của các doanh nghiệp có thành phần nước ngoài. Công nghệ nhận dạng tần số vô tuyến (RFID) mới được Công ty Công nghệ Splend ID giới thiệu vào Việt Nam (tháng 1 năm 2010), chính thức đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia sử dụng công nghệ này. RFID ”.
Hình 33 :Mô hình Cross Docking
Công nghệ chuyển giao điện tử (EDI), một hệ thống dựa trên đám mây đảm bảo trao đổi thông tin giữa các đối tác (nhà sản xuất, nhà cung cấp, nhà phân phối, nhà bán lẻ, v.v.), là
sự đổi mới sau đây trong lĩnh vực hậu cần. Để cách tiếp cận cross-docking được sử dụng thành công trong tương lai, đây là một bước quan trọng và sáng tạo.
Hơn 130 triệu tấn hàng hóa các loại được đưa vào Việt Nam mỗi năm thông qua hệ thống cảng biển, tập trung chủ yếu tại các cảng lớn là Tân Cảng, Sài Gòn, Hải Phòng, Bến Nghé, Cái Lân, Đà Nẵng, VICT, .. .
Theo báo cáo, một số cảng container lớn của Việt Nam - VICT, Sài Gòn và Hải Phòng - hiện không thể áp dụng EDI.
VICT (Vietnam International Container Terminal) là cảng container được thiết kế chuyên biệt đầu tiên tại Việt Nam có liên doanh nước ngoài sử dụng và đưa vào sử dụng hệ thống máy tính quản lý trong tất cả các hoạt động của cảng. Để đảm bảo luồng thông tin liên tục và đồng thời mang lại sự thuận tiện cho khách hàng, hệ thống EDI giữa cảng và người sử dụng cảng đã giúp tăng hiệu quả và năng suất của cảng.
Hệ thống EDI sử dụng tại Cảng Hải Phòng được tạo ra phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Sử dụng EDIFACT, kết hợp thông tin về quản lý container từ hệ thống thông tin quản lý MIS hiện tại của cảng để tạo báo cáo điện tử phù hợp với các biểu mẫu cung cấp cho doanh nghiệp tàu như: MAERSK, MCC, HANJIN, MOL, WAN HAI,..
Cảng Sài Gòn (hay cảng TP HCM) tuy có sử dụng các phần mềm quản lý khai thác cảng và ứng dụng EDI nhưng chỉ ở mức độ sơ khai.
Ví dụ về một mô hình quản lý về công nghệ EDI tại cảng Hải Phòng. Hệ thống EDI của Cảng Hải Phòng bao gồm hai phần chính:
MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG EDI CẢNG HẢI PHÒNG
Xí nghi p xây d ng Chùa Vẽẽệ ự D li u Qu n lý thông tn C ng HPữ ệ ả ả
Chương Trình EDI CODECO
-Nh p bãiậ -Xuâất bãi -Nh p hàngậ -Rút hàng
COARRI
-D containẽrỡ -Xếấp containẽr -V n chuy nậ ể
H thôấng EDI hãng tàu nệ ước ngoài Trao đ i d li u DT v i các hãng tàuổ ữ ệ ớ
X lý d li uử ữ ệ
X lý d li uử ữ ệ
Hình 34: Mô hình hoạt động EDI Hải Phòng