CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM THỰC HIỆN CROSS- DOCKING TRONG QUÁ TRÌNH QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG CỦA WALMART
3.4. Kinh nghiệm rút ra trong quá trình quản lý chuỗi cung ứng của Walmart thông qua việc thực hiện Cross- docking
Cách tiếp cận của Walmart là tập trung vào lợi thế chi phí, trở thành một cửa hàng có giá cả phải chăng hơn mỗi ngày và theo đuổi những khách hàng quan tâm đến giá cả. Để thực hiện kế hoạch này, Walmart đã chọn loại bỏ những người trung gian và mua hàng trực tiếp từ các nhà cung cấp.
Để loại bỏ những người trung gian, Walmart đã xây dựng trung tâm bán lẻ đầu tiên của mình ở Bentonville vào năm 1970..
Walmart thành lập văn phòng tại Trung Quốc và Ấn Độ vào những năm 1980 và bắt đầu tìm nguồn cung ứng sản phẩm từ khắp nơi trên thế giới.
Walmart luôn ưu tiên chi phí trước khi thực hiện đơn đặt hàng, luôn yêu cầu một giá hóa đơn duy nhất và chỉ hoàn thành giao dịch cuối cùng nếu chắc chắn rằng họ đã có được mặt hàng với chi phí thấp nhất.
Đối với chiến lược phân phối của Walmart, các trung tâm phân phối được phân bổ trên nhiều khu vực địa lý và mỗi trung tâm phân phối sẽ có lựa chọn sản phẩm phù hợp với đặc điểm và yêu cầu của từng khu vực. Walmart có thể tối đa hóa hiệu quả vận chuyển nhờ cấu trúc này và nhanh chóng thích ứng với nhu cầu của từng người tiêu dùng riêng biệt.
Doanh nghiệp có thể làm mới các kệ hàng hai lần mỗi tuần và đưa hàng từ nơi phân phối đến các cửa hàng trong 2 ngày bằng xa chuyên dụng. Walmart phản ứng nhanh chóng với những thay đổi trong nhu cầu của khách hàng nhờ khung thời gian vận chuyển nhanh chóng.
Walmart quản trị Logistics như thế nào ?
Khả năng đáp ứng và khả năng thích ứng của hệ thống giao thông tư nhân của Walmart là một trong những thành phần cơ sở hạ tầng hậu cần thiết yếu của nó. Phương pháp tiếp cận chuỗi cung ứng linh hoạt được Walmart sử dụng dựa trên ý tưởng này.
Walmart đã phát triển một nền tảng phân phối cho các sản phẩm được bán tại các cửa hàng thông qua khoảng 111 nơi phân phối rải khắp Hoa Kỳ, cùng với bộ phận hậu cần lên đến 70.000 nhân viên, 7.200tài xế và lên đến 6.000 xe tải.
Hình 39: Đội xe chuyên dụng của Walmart
Đội xe của Walmart đưa hàng từ các cơ sở của nhà cung cấp đến nơi phân phối.
Không cần thêm kho lưu trữ, các sản phẩm được vận chuyển thẳng từ đây đến các cửa hàng.
Nhờ đội xe chuyên dụng, các doanh nghiệp có thể kê lại các kệ hàng hai lần mỗi tuần và vận chuyển hàng hóa từ các cơ sở phân phối đến các cửa hàng trong vòng ít nhất hai ngày. Walmart có thể trả lời nhanh chóng vì thời gian vận chuyển nhanh chóng. nhu cầu của
Walmart đã triển khai hệ thống kết nối chéo, theo đó hàng hóa sẽ gửi theo lô trực tiếp từ cơ sở sản xuất của nhà cung cấp đến kho hàng, cải thiện hiệu quả phân phối và vận chuyển. nơi mà lô hàng sẽ được phân chia, sẵn sàng cho nhu cầu của khách hàng, và cuối cùng là giao cho người tiêu dùng.
Hàng về là dùng ngay mà không cần qua kho vì mọi thứ đã sẵn sàng. Cách tiếp cận này giúp tiết kiệm không gian, giảm chi phí hoạt động và tăng hiệu quả của việc phân phối trong khi giảm chi phí.
Quản lý hàng tồn kho
Việc áp dụng nền tảng này là điều cần thiết để Walmart quản lý tồn kho của mình thúc đẩy hơn. Nền tảng CPFR đã được thực hiện thành công trong mối quan hệ P&G và Walmart.
Sự hợp tác giữa hai công ty chủ yếu theo định hướng mua và bán vào cuối những năm 1980; các hoạt động bổ sung như chia sẻ thông tin, tiếp thị, hậu cần, v.v. hiếm khi được thực hiện, nếu có.
Walmart luôn ưu tiên chi phí trước khi thực hiện đơn đặt hàng, luôn yêu cầu một giá hóa đơn duy nhất và chỉ hoàn thành giao dịch cuối cùng nếu chắc chắn rằng họ đã có được mặt hàng với chi phí thấp nhất..
Bằng cách kết hợp các ứng dụng công nghệ như hệ thống kết nối bán lẻ, công nghệ EDI, chương trình CPFR, v.v., Walmart và P&G đã chuyển đổi cách tiếp cận hợp tác để tăng hiệu quả với các nhà cung cấp. Ngoài việc sản xuất và giao hàng kịp thời, dòng thông tin là không đổi.
Walmart có thể theo dõi hàng tồn kho tại các địa điểm bán lẻ của mình và tạo ra một hệ thống kết nối tất cả các máy tính của P&G với các địa điểm bán lẻ và kho hàng của mình.
Mỗi khi hệ thống máy tính cho rằng một hàng hóa nhất định cần được bổ sung, P&G sẽ nhận được thông báo và đơn đặt hàng bổ sung sau đó sẽ được gửi đến P&G gần nhất thông qua hệ thống này trước khi sản phẩm được gửi đến các trung tâm phân phối hoặc đến các cửa hàng.
Năm 2000, có 4 tỷ đô la giao dịch, tăng từ 375 triệu đô la vào năm 1988.
Hình 40: Nhà kho Walmart
2006, Walmart đã mở rộng việc áp dụng khái niệm này cho một số nhà cung cấp và nhóm sản phẩm. Mô hình này phát triển nhanh chóng và có những hiệu quả thuận lợi nhờ các ứng dụng kỹ thuật phức tạp hơn. Nhân viên tại Walmart được cung cấp máy quét mã vạch để họ có thể xử lý việc giao hàng, quản lý hàng tồn kho và lưu trữ hàng hóa trong các cơ sở phân phối bằng công nghệ RFID.
Hình 41: Hệ thống nhà kho của Walmart
của mình, Walmart cũng sử dụng các thuật toán phức tạp để dự báo số lượng chính xác của từng mặt hàng cần được giao. Sau đó, Walmart cung cấp cho các nhà sản xuất tất cả dữ liệu đã được thu thập và xác minh trước đó thông qua hệ thống kết nối bán lẻ.
Các nhà sản xuất có thể kiểm soát tần suất, số lượng và thời gian giao hàng với sự hỗ trợ của thông tin được chia sẻ, loại bỏ việc phải đợi nhà bán lẻ hoàn tất việc mua hàng. Bằng cách chủ động tạo đủ kho để giao hàng, nhà sản xuất có thể giảm lượng hàng tồn kho và đơn giản hóa việc giao hàng hiệu quả hơn.