Các khái niệm về tri thức và hệ quản trị tri thức

Một phần của tài liệu Phát triển mô hình tác tử thông minh và ứng dụng trong e learning (Trang 42 - 45)

Tri thức là sản phẩm của sự nhận thức và kinh nghiệm của loài người. Phụ thuộc vào ngữ cảnh, tri thức là tài sản của các cá nhân hoặc tập thể. Tri thức có thể được cung cấp dưới dạng các thủ tục, các quá trình tích hợp, được nhúng trong ngôn ngữ, các câu chuyển kể lại, các khái niệm, các luật và các công cụ. Tri thức nhằm tăng cường cho các quá trình tạo ra quyết định hành động.

Các khái niệm cơ sở về tri thức (từ đơn giản đến phức tạp) đã được một số tác giả đề cập đến như:

• Tri thức là thông tin được tổ chức hoá nhằm ứng dụng để giải quyết vấn đề (Woolf 1990) [43].

• Tri thức là thông tin được tổ chức và phân tích để hiểu được nó và ứng dụng trong giải quyết vấn đề và tạo ra quyết định (Turban 1992) [40].

• Tri thức gắn với quá trình suy luận về thông tin và dữ liệu để hành động với hiệu năng cao, giải quyết vấn đề, tạo ra quyết định, học và dạy (Beckman 1997) [22].

• Tri thức là những hiểu biết đã được kiểm nghiệm (Plato) [9].

Phân biệt giữa dữ liệu, thông tin và tri thức được cho trên Hình 2.1:

• Dữ liệu là những số liệu ở dạng thô và mô tả nguyên vẹn, đầy đủ về các sự vật, hiện tượng trong quá khứ và hiện tại.

• Thông tin là các mẫu được nhúng trong dữ liệu.

• Thông tin được truyền tải dưới dạng các ký tự, tín hiệu, âm thanh, hình ảnh, vv...

Thông tin có thể coi là dữ liệu được tổ chức, sử dụng để tạo ra những quyết định.

• Tri thức thể hiện nhận thức, thừa nhận của cá nhân, cộng đồng dưới dạng các phán đoán, ý kiến hoặc một hệ thống của ý kiến theo các tiêu chí khác nhau.

Không có sự phân biệt rõ ràng giữa thông tin và tri thức, nhưng chúng khác nhau và có thể chuyển đổi lẫn nhau, dựa trên khả năng trí tuệ của các thực thể xử lý.

Hình 2.1. Quan hệ chuyển đổi giữa dữ liệu, thông tin và tri thức Quá trình chuyển đổi giữa dữ liệu, thông tin và tri thức có thể diễn ra như sau:

 Dữ liệu có thể được chuyển thành thông tin thông qua quá trình tổ chức lại, quá trình xử lý, xác nhận, ý kiến đánh giá, vv.. của các cá nhân và tập thể.

Dữ liệu Thông tin Tri thức

Tri thức

Tri thức là nhận thức/công nhận của cá nhân hoặc xã hội

Thông tin là những tri thức được chuyển hoá, là dữ liệu được tổ chức lại

Tri thức

Tri thức là ý kiến cá nhân hoặc ý kiến thống nhất của tập thể

Trí tuệ Tri thức là những

hiểu biết được kiểm nghiệm

 Tri thức có thể được chuyển đổi từ dữ liệu hoặc thông tin thông qua những hiểu biết đã được kiểm nghiểm bởi các cá nhân và tập thể.

 Có thể chuyển đổi dữ liệu và tri thức thành thông tin (quảng bá) cho những mục đích khác nhau.

 Có thể sáng tạo tri thức mới trên cơ sở dữ liệu và thông tin.

Khái niệm trí tuệ

 Trí tuệ là khả năng học, hiểu, suy nghĩ và giải quyết vấn đề.

 Trí tuệ là khả năng nhận thức và sáng tạo tri thức.

2.1.2. Hệ quản trị tri thức

Khái niệm về hệ quản trị tri thức dựa trên hai tiếp cận: Tri thức định hướng con người và tri thức định hướng công nghệ. Khoa học quản trị tri thức hướng con người nghiên cứu cách thức tổ chức, sử dụng và sáng tạo tri thức của tổ chức và tri thức của cá nhân. Khoa học quản trị tri thức hướng công nghệ nghiên cứu cách sử dụng các nền tảng công nghệ thông tin (platforms) và các công cụ quản trị tri thức để hỗ trợ, thúc đẩy các công việc trên.

Khái niệm Quản trị tri thức thể hiện hai cách tiếp cận nêu trên. Có thể đưa ra:

 Quản trị tri thức bao gồm các quá trình xác định, sáng tạo, nắm bắt, xử lý, chuyển giao, lưu trữ và sử dụng tri thức có giá trị chiến lược [9].

 Quản trị tri thức là quá trình theo đó các tổ chức tạo ra giá trị từ sở hữu trí tuệ và sở hữu tri thức (http://www.cio.com/research/knowledge).

 Quản trị tri thức là khái niệm hàm nghĩa: Doanh nghiệp thu thập, tổ chức, chia sẻ và phân tích tri thức như tài nguyên, tài liệu, kỹ năng của con người một cách có ý thức và toàn diện (http://searchdomino.techtarget.com)

 Quản trị tri thức là tập hợp các quá trình điều hành sự sáng tạo, phổ biến và sử dụng tri thức [22].

 Quản trị tri thức là phương thức theo đó các tổ chức sáng tạo, nắm giữ và tái sử dụng tri thức để đạt các mục tiêu của mình (http://www.intranetjournal.com).

 Quản trị tri thức hướng tới các quá trình sáng tạo, nắm bắt, chuyển giao và sử dụng tri thức để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức [9].

 Quản trị tri thức bao gồm các chiến lược thu thập tri thức cần thiết đúng người, đúng lúc, giúp mọi người chia sẻ và đưa tri thức vào hành động nhằm nâng hiệu quả hoạt động của tổ chức [9].

 Quản trị tri thức hướng tới quản trị dòng thông tin, thu thập thông tin đúng người cần, giúp họ có thể hành động nhanh chóng với thông tin [9].

Như vậy, quản trị tri thức liên quan đến con người, thông tin và hệ thống, bao gồm:

 Quá trình sáng tạo tri thức: Làm sao được tri thức cần thiết.

 Sử dụng tri thức: Làm sao dùng được tri thức để nâng cao hiệu quả hoạt động của con người và tổ chức.

Một phần của tài liệu Phát triển mô hình tác tử thông minh và ứng dụng trong e learning (Trang 42 - 45)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(122 trang)