Đề xuất mô hình quản trị tri thức trong các hệ phân tán

Một phần của tài liệu Phát triển mô hình tác tử thông minh và ứng dụng trong e learning (Trang 53 - 56)

Trên thực tế, có rất nhiều dữ liệu và thông tin trong các hệ ứng dụng phân tán được tổ chức tốt và có cấu trúc, nhưng chúng vẫn còn rất hỗn tạp. Do đó, cần phải xây dựng một mô hình để sáng tạo, tích hợp, đánh giá, kiểm nghiệm, lưu trữ, chia sẻ những thông tin giá trị, các kinh nghiệm thông qua các quan hệ, liên kết giữa thông tin, con người, tổ chức và hệ thống và chuyển thành tri thức để cung cấp cho hệ thống và chuyển giao cho người dùng.

Để phát triển các hệ phân tán theo các mục tiêu đã nêu trên, chúng ta có thể cố gắng thiết kế và cài đặt hệ thống dựa trên những thành tựu từ công nghệ thông tin và viễn thông. Mặt khác, có thể xây dựng những mô hình ứng dụng mới: Quản trị tri thức trên cơ sở thông tin, hệ thống có sự tham gia của con người.

Nghiên cứu về thông tin và tri thức cho phép xác định nguồn gốc của tri thức (con người, thông tin, hệ thống), các kiểu tri thức (tri thức ẩn, tri thức hiện), ý nghĩa và quan hệ thứ bậc giữa dữ liệu, thông tin & tri thức, các khả năng và quá trình chuyển đổi từ dữ liệu, thông tin thành tri thức.

Khoa học quản lý nghiên cứu về các nguồn chia sẻ, cung cấp dữ liệu, thông tin và tri thức, quá trình chuyển đổi và tài sản tri thức nhằm sinh kế hoạch và thực hiện kế hoạch. Sinh kế hoạch thể hiện quá trình tạo sinh (sáng tạo tri thức và tạo dựng kịch bản) và thương lượng (tích hợp quan điểm và giải quyết vấn đề). Thực hiện kế hoạch bao gồm quá trình lựa chọn (cung cấp giải pháp) và thực hiện (mô hình mô phỏng vấn đề).

Vai trò quan trọng của công nghệ thông tin trong xây dựng mô hình quản trị tri thức được thể hiện thông qua những thành tựu từ khoa học máy tính, bao gồm các mô hình thuật toán, CSDL, các kiến trúc, cách biểu diễn, suy luận, kiến trúc trí tuệ nhân tạo, các phương pháp của trí tuệ nhân tạo, CS tri thức và những yếu tố liên quan đến phát triển công nghệ tri thức từ khoa học đời sống, khoa học xã hội và khoa học văn hoá.

Hợp nhất cách tiếp cận công nghệ tri thức từ khoa học quản lý và công nghệ thông tin, ta có thể phát triển phương pháp luận xây dựng mô hình quản trị tri thức trong môi trường phân tán, nhằm tăng cường khả năng nhận thức và sáng tạo tri thức dựa trên dữ liệu, thông tin, tri thức, con người và hệ thống. Từ đó, luận án đề xuất mô hình quản trị tri thức (Hình 2.7), bao gồm sáu hệ thống con cộng tác với nhau trong quá trình hoạt động.

Sáu hệ thống con tích hợp cho phép sáng tạo ra các kiểu tri thức khác nhau: tri thức có thể dưới dạng các khái niệm, các quan điểm, tri thức được chuyển đổi từ dữ liệu và thông tin, cách giải quyết vấn đề, các mô hình nhận thức (hiểu và học), kịch bản mô phỏng vấn đề. Đặc trưng, qui trình nghiệp vụ chủ yếu và nhiệm vụ của các tác tử tương ứng trong mô hình quản trị tri thức được liệt kê theo Bảng 2.2.

Mô hình quản trị tri thức

Nguồn tài nguyên cơ sở

Dữ liệu

Thông tin

Tri thức Các hệ

thống khác

Giao diện người

dùng

Các hệ thống con

Giải quyết

vấn đề Các mô

hình

kịch bản Các

Cung cấp giải pháp

Tích hợp quan điểm Sáng tạo

tri thức

Hình 2.7. Mô hình quản tri tri thức trong hệ phân tán

TT Tên hệ

thống Đặc trưng và qui trình nghiệp

vụ chủ yếu Nhiệm vụ của các tác tử tương ứng

1 Giải quyết

vấn đề - Hành động trong môi trường mà không biết trước được các tình huống xảy ra.

- Thu thập, lựa chọn các kiểu tri thức cần thiết để giải quyết vấn đề hiện tại.

- Tác tử thu nhận dữ liệu, thông tin từ người dùng, chuyên gia và hệ thống.

- Tác tử liên kết, cộng tác suy diễn.

- Tác tử ra quyết định giải quyết vấn đề.

2 Các mô

hình

- Tăng cường khả năng hiểu và học về các vấn đề.

- Thu nhận dữ liệu, thông tin và tri thức cần thiết, phân tích và tạo ra mô hình mô phỏng hoặc tối ưu hoá về vấn đề.

- Tác tử giao tiếp với người dùng, chuyên gia và hệ thống để thu nhận những dữ liệu cần thiết.

- Tác tử phân tích, đánh giá dữ liệu và tạo dựng mô hình mô phỏng hoặc tối ưu, cung cấp cho người dùng hoặc hệ thống.

3 Các kịch

bản - Xây dựng ý tưởng riêng về vấn

đề hay đối tượng mới hoặc đang tồn tại.

- Kịch bản mô phỏng vấn đề dựa trên những tri thức từng phần.

- Tác tử thu nhận dữ liệu cần thiết.

- Tác tử xây dựng mối quan hệ giữa các sự kiện (thành phần) hiện tại và các sự kiện mới.

- Tác tử tạo dựng kịch bản về vấn đề dựa trên các sự kiện (thành phần) và mối quan hệ giữa chúng.

- Tác tử cung cấp kịch bản cho người dùng, hệ thống.

4 Sáng tạo

tri thức Tri thức mới được chuyển đổi từ

dữ liệu và thông tin. - Tác tử thu nhận dữ liệu theo các khuôn dạng dữ liệu.

- Tác tử nối ghép dữ liệu, thông tin và tri thức.

- Tác tử thực thi quá trình, thủ tục chuyển đổi dữ liệu và thông tin thành tri thức.

5 Tích hợp

quan điểm - Tăng cường sự quan tâm và nhiệt tình của mọi người dùng.

- Lắng nghe ý kiến, quan điểm của mọi người bằng cách gặp mặt, câu hỏi khảo sát và tích hợp thành các quan điểm.

- Tác tử giao diện thu nhận ý kiến đánh giá của người dùng, chuyên gia và hệ thống thông qua quá trình gửi và nhận dữ liệu theo khuôn mẫu (form).

- Tác tử công tác, phân tích và tích hợp các ý kiến đánh giá của cá nhân và tập thể thành các quan điểm và khái niệm mới.

6 Cung cấp

giải pháp - Đánh giá độ tin cậy của dữ liệu, thông tin và tri thức.

- Lựa chọn và cung cấp những tri thức - đối tượng dữ liệu, thông tin và tri thức tốt nhất cho người dùng và hệ thống.

Tác tử cộng tác đánh giá, kiểm nghiệm hoặc lựa chọn dữ liệu, thông tin, tri thức và trả lời theo yêu cầu của người dùng hoặc hệ thống.

Bảng 2.2. Đặc trưng và qui trình nghiệp vụ chủ yếu của các hệ thống con quản trị tri thức

Từ mô hình trên, khái niệm Hệ quản trị tri thức được mở rộng như sau:

Hệ quản trị tri thức là một tập hợp các quá trình điều hành (1) Sáng tạo tri thức, (2) tích hợp quan điểm, (3) tạo dựng các mô hình, (4) tạo dựng các kịch bản, (5) cung cấp các giải pháp, (6) phương pháp giải quyết vấn đề.

Một phần của tài liệu Phát triển mô hình tác tử thông minh và ứng dụng trong e learning (Trang 53 - 56)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(122 trang)