Việc hợp nhất mô hình đào tạo từ xa và quản trị tri thức được thể hiện theo ba nghĩa: (1) hợp nhất phương pháp luận trong đào tạo (phát huy nội lực, cách dạy, cách
học, mô hình học tập,...) và phương pháp luận trong quản trị tri thức (chương 2); (2) bổ sung các dịch vụ quản trị tri thức cho hệ thống đào tạo từ xa; (3) các qui trình nghiệp vụ trong đào tạo từ xa có thể sử dụng các dịch vụ trong quản trị tri thức thông qua cơ chế cộng tác của các tác tử và ngược lại.
Trước khi hợp nhất, phối ghép các qui trình nghiệp vụ chúng ta cùng xem xét lại những mục tiêu và đặc trưng chủ yếu giữa mô hình đào tạo từ xa và quản trị tri thức thông qua bảng 3.1.
Đào tạo Quản trị tri thức
Mục tiêu là để dạy. Thể hiện thông qua cách dạy và cách học.
Mục tiêu là cung cấp thông tin và tri thức; tích hợp quan điểm; tạo dựng và cung cấp các mô hình; tạo dựng và cung cấp các kịch bản; cung cấp các giải pháp; cung cấp phương pháp giải quyết vấn đề.
Mục đích truyền tri thức, cách học và kỹ năng cho người dùng
Mục đích cung cấp một nguồn tài nguyên và giải pháp sử dụng tài nguyên đến người dùng và hỗ trợ thực hiện hiệu quả - hoàn thành tốt công việc được giao.
Yêu cầu ngừng công việc để
tham gia học tập Không yêu cầu ngừng làm việc để tham gia đào tạo. Ý tưởng, nội dung học được tích hợp trong nhiệm vụ cần làm hoặc học thông qua làm.
Học viên bị ức chế làm thế
nào để học Học viên (người dùng) quyết định sẽ học như thế nào và nhiệm vụ học được xác định trên cơ sở công việc mà học viên sẽ làm sau khi kết thúc học.
Biểu hiện kết quả của học viên là “Biết cái để làm và vì sao. Bổ sung thông tin và công cụ hỗ trợ”
Biểu hiện kết quả của người dùng là “Có thể lấy thông tin để sử dụng, biết cách tìm thông tin theo yêu cầu" hoặc
“không cần biết quá sâu về việc làm thế nào để thực hiện công việc mà hệ thống sẽ hướng dẫn người dùng theo qui trình - Học cách sử dụng và kiểm soát hệ thống”
Ví dụ: đào tạo kỹ thuật để
sửa máy tính Ví dụ: truy cập cơ sở dữ liệu để tìm ra hỏng hóc theo tình huống và sử dụng công cụ kiểm tra xác định lỗi trong máy tính.
Bảng 3.1. So sánh đặc trưng chủ yếu giữa mô hình đào tạo từ xa và quản trị tri thức Trong quá trình đào tạo, hệ thống (thầy giáo) sử dụng các kiểu dữ liệu khác nhau (dữ liệu bên trong và bên ngoài) và tri thức (tri thức ẩn và tri thức hiện [3]) được lưu trữ theo các khuôn dạng khác nhau trong hệ thống CSDL đào tạo. Quá trình đào tạo cũng tăng cường cho hệ thống khả năng hiểu về nhu cầu học tập, hiệu quả của các qui trình
sư phạm, đánh giá, kiểm tra và khả năng sáng tạo ra tri thức mới. Các hoạt động thu nhận tri thức, lưu trữ và phân tán trong quản trị tri thức cho phép khởi tạo động và duy trì các hình thức học tập. Ngược lại, các hình thức học tập, đánh giá, kiểm tra và các tài liệu khác nhau của hệ thống đào tạo từ xa cũng cung cấp cho quản trị tri thức thực hiện việc thu nhận, lưu trữ tri thức ẩn và tri thức hiện của các lớp người dùng khác nhau và hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi tri thức, thực thi các dịch vụ trong quản trị tri thức.
Nói cách khác, quá trình sáng tạo tri thức và đào tạo từ xa có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và có thể phối ghép với nhau. Tích hợp các tính năng của đào tạo từ xa và quản trị tri thức không chỉ hỗ trợ cho các tương tác theo yêu cầu người học mà còn là cơ hội mới để tăng cường khả năng cung cấp dịch vụ của hệ thống.
Sự tương đồng và các mối quan hệ tương tác cơ bản giữa đào tạo từ xa và quản trị tri thức xét từ mô hình chuyển đổi tri thức của Nonaka (xem Mục 2.2), như sau:
Quá trình ngoại hiện tri thức thể hiện việc chuyển đổi tri thức ẩn thành tri thức hiện.
Trong đào tạo từ xa, điều này tương tự như quá trình suy luận tri thức để cung cấp những nội dung học tập theo yêu cầu của người dùng và điều khiển quá trình học tập, đánh giá, kiểm tra theo qui trình sư phạm của thầy giáo.
Các vấn đề đồng nhất cũng có thể được thể hiện thông qua hình thức kết hợp trong chuyển đổi tri thức. Quá trình tạo ra những tri thức hiện mới từ những tri thức đang tồn tại và quá trình tích hợp nội dung (đối tượng học-learning object) trong đào tạo từ xa.
Quá trình nội nhập tri thức trong quản trị tri thức tương ứng với sự tiếp nhận và sử dụng tri thức hiện của học viên trong hệ thống đào tạo từ xa.
Chuyển đổi tri thức bằng hình thức xã hội hoá thì tương tự như là sự chia sẻ thông tin và kinh nghiệm giữa các thành phần tham gia trong hệ thống: sự đồng cảm giữa các học viên, giữa các thầy giáo, giữa thầy giáo và học viên, vv...
Các mối quan hệ tương tác giữa quản trị tri thức và đào tạo từ xa bao gồm những quá trình trao đổi dữ liệu, thông tin và tri thức hiện (như các nội dung học, các tài liệu, các dịch vụ) và/hoặc để xây dựng hệ thống đào tạo từ xa và sáng tạo tri thức mới trong quá trình vận hành của hệ thống đào tạo từ xa.
Từ đó, sự hợp nhất về phương pháp luận giữa mô hình đào tạo từ xa và quản trị tri thức được đề xuất theo sơ đồ mô tả trong Hình 3.4.
Quá trình ngoại hiện
Dữ liệu trong hệ CSDL, trong các kho dữ liệu (data warehouse) và dữ liệu thu nhận tri thức ẩn được lưu trữ dưới dạng tập các đối tượng học tập (learning object), đối tượng dữ liệu, đối tượng thông tin và đối tượng tri thức phục vụ cho các yêu cầu học tập và cung cấp thông tin cho các lớp người dùng khác nhau. Một phần của dữ liệu trên chứa luật sử dụng tài liệu (qui tắc sư phạm) cho các mục đích khác nhau. Quá trình ngoại hiện thực hiện việc chuyển đổi các mô hình ẩn (dữ liệu và các tình huống) thành các mô hình hiện (nội dung học, tri thức được khám phá và qui trình đào tạo).
Các mô hình ẩn (dạy, học) có thể được ngoại hiện thành các mô hình hiện (cách dạy, cách học) bởi các phương pháp ngoại hiện truyền thống hoặc kỹ thuật khám phá tri thức. Các phương pháp truyền thống yêu cầu thầy giáo tương tác trực tiếp với học viên/người dùng và thực hiện suy luận trên cơ sở năng lực của bản thân học viên để đưa ra nội dung và qui trình học tập phù hợp với năng lực. Phương pháp thứ hai cho phép học viên ngoại hiện các mô hình ẩn không có sự trợ giúp của thầy giáo bằng cách sử dụng các công cụ thông minh (tác tử thông minh) thực thi các cơ chế suy diễn, kiểm tra, đánh giá năng lực học viên.
Ngoại hiện
Nội nhập
Kết hợp
Xã hội hoá
Các mô hình hiện
Các nguồn tri thức bên trong và bên ngoài
CSDL đối tượng học CSDL tri thức: tri thức lĩnh vực, quan điểm, giải
pháp, vấn đề, mô hình, kịch bản
CSDL kiểm tra, đánh giá
CSDL qui tắc sư phạm
Hình 3.4. Đào tạo từ xa trên cơ sở quản trị tri thức
Các mô hình ẩn
Các nguồn dữ liệu bên trong và bên ngoài
Các hệ thống CSDL Các hệ thống CSDL
bên ngoài
Các kho dữ liệu CSDL luật (các trường hợp)
Quá trình kết hợp
Các yêu cầu học tập khác nhau, tương ứng với các nội dung và qui trình sư phạm khác nhau (cách dạy và cách học khác nhau). Tính đa dạng của người học hoặc một nhóm người dùng, có thể được kết hợp để tạo ra mô hình hiện mới (nội dung và qui trình học). Sự kết hợp mô hình theo yêu cầu về nội dung học tập có thể được thực hiện theo hai cách khác nhau: Tổng quát hoá và tích hợp.
Tổng quát hoá: từ tập các mô hình hiện cụ thể (các mô hình học) đưa ra mô hình hiện chung nhất để đa dạng hoá các yêu cầu học tập tương tự nhau. Quá trình này giảm được số các mô hình. Tính phức tạp của quá trình tổng quát hoá phụ thuộc vào độ phức tạp và sự kết hợp của các mô hình được sử dụng.
Tích hợp: tạo ra các mô hình hiện mới thông qua việc kết hợp các mô hình khác nhau, thậm chí từ các lĩnh vực học khác nhau đề cập đến những vấn đề phức tạp hơn.
Nghiên cứu liên quan đến tích hợp mô hình trong lĩnh vực đào tạo từ xa có thể ứng dụng cho những mục tiêu này. Tích hợp các mô hình được tổng quát hoá từ các lĩnh vực khác nhau sẽ đưa ra một hiểu biết tốt nhất của sự tương tác giữa các thành phần tri thức theo các lĩnh vực khác nhau.
Quá trình nội nhập
Các nội dung và qui trình học tập được sáng tạo từ quá trình kết hợp và ngoại hiện sẽ làm đầu vào cho quá trình nội nhập.
Quá trình nội nhập đề cập đến việc chuyển đổi các mô hình hiện được chia sẻ thành các mô hình ẩn theo yêu cầu học tập của mỗi học viên. Đây là quá trình học thông qua làm, kết quả là người học được bổ sung và cải thiện tri thức ẩn. Có bốn hoạt động quan trọng trong quá trình nội nhập. Thứ nhất, sự tương ứng và phù hợp giữa nội dung yêu cầu học tập, qui trình đào tạo và khả năng nội nhập học viên. Đặc biệt, tính hiệu quả của đào tạo phụ thuộc vào phương pháp sự phạm và các dịch vụ hỗ trợ tri thức. Thứ hai, công cụ để tìm kiếm, lọc các nội dung và qui tắc sư phạm liên quan theo các yêu cầu. Thứ ba, mô hình phân tích/đánh giá các khả năng như phân tích cảm xúc (hoặc phân tích IF - THEN) cho phép người dùng so sánh tính hiệu quả giữa các nội dung và qui trình học tập để lựa chọn, triển khai học tập cũng như khả năng nội nhập
sau này. Thứ tư, hỗ trợ để người dùng quyết định trong các tình huống tương ứng và ứng dụng các nội dung đã được chia sẻ. Điều này được thực hiện thông qua việc xây dựng và duy trì những nội dung và qui trình học tập theo yêu cầu của người dùng.
Trong trường hợp này, quá trình nội nhập được hệ thống hoá và tạo ra các tiếp cận nội nhập thường xuyên thông qua việc cập nhật nội dung đã học tập.
Quá trình xã hội hoá
Trong khi quá trình nội nhập cho phép những người dùng quyết định học, chia sẻ, thích nghi và áp dụng hình thức học tập phù hợp với năng lực thì xã hội hoá cho phép người học thu nhận các mô hình tri thức ẩn mới thông qua việc chia sẻ các mô hình ẩn khác nhau. Quá trình chuyển đổi tri thức xã hội hoá đề cập đến chuyển đổi tri thức ẩn nhờ việc chia sẻ những kinh nghiệm. Trong mô hình hợp nhất đào tạo từ xa và quản trị tri thức, các đối tượng học tập và tài liệu trong CSDL trình bày những kinh nghiệm liên quan đến tri thức ẩn của cả người tạo ra nội dung học tập và người học.
Các kinh nghiệm được tài liệu hoá cho phép người dùng học tập kinh nghiệm từ những người khác và thay đổi mô hình ẩn của mình.