Giá cả và sản lượng của các doanh nghiệp trong thị trường độc quyền tập đoàn không có hợp tác 59 CHƯƠNG 6: THỊ TRƯỜNG YẾU TỐ SẢN XUẤT

Một phần của tài liệu BÀI GIẢNG MÔN: KINH TẾ VI MÔ (Trang 69 - 78)

CHƯƠNG 5: CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN

5.3 THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH KHÔNG HOÀN HẢO

5.3.2 Độc quyền tập đoàn

5.3.2.3 Giá cả và sản lượng của các doanh nghiệp trong thị trường độc quyền tập đoàn không có hợp tác 59 CHƯƠNG 6: THỊ TRƯỜNG YẾU TỐ SẢN XUẤT

*Mô hình Cournot

Mô hình này được Augustin Cournot đưa ra vào năm 1838.

Để đơn giản trước hết chúng ta xem xét trường hợp thị trường độc quyền tập đoàn có hai hãng. Giả định rằng các hãng sản xuất sản phẩm giống nhau và họ biết trước đường cầu thị trường (DTT: P = f(Q)).

Mỗi hãng phải quyết định sản xuất bao nhiêu sản lượng một cách đồng thời trên cơ sở cân nhắc hành vi của đối thủ. Vì sản phẩm là giống nhau nên mức giá bán sẽ phụ thuộc vào tổng sản lượng của cả 2 hãng thông qua đường cầu thị trường. Trong

-69-

mô hình này, mỗi hãng sẽ coi sản lượng của đối thủ cạnh tranh là cố định và từ đó đưa ra mức sản lượng của mình.

Hãng 1 xác định được mức sản lượng tối ưu theo nguyên tắc: MR1 = MC1.

=> Q1 * = g(Q2): đường phản ứng của hãng 1.

Tương tự, ta có đường phản ứng của hãng 2, Q2 * = h(Q1).

Hình 5.11: Mô hình Cournot

Cân bằng đạt được tại vị trí giao cắt giữa 2 đường phản ứng của 2 hãng (điểm A) Điểm này được gọi là cân bằng Nash –Cournot bởi đây chính là một cân bằng Nash.

* Mô hình Stackelberg –Lợi thế đi trước

Mô hình này cũng lấy ví dụ hai hãng từ mô hình Cournot, đường cầu thị trường là DTT: P = f(Q), với giả định hãng 1 sẽ là hãng quyết định trước.

Vì hãng 2 ra quyết định sau, nên hãng 2 sẽ coi sản lượng của hãng 1 là cho trước, và có hàm phản ứng là: Q2 = h(Q1) (được xây dựng giống như mô hình Cournot).

Quay trờ lại hãng 1, hãng 1 sẽ quyết định tại điểm doanh thu cận biên cân bằng với chi phí cận biên của hãng.

Tổng doanh thu của doanh nghiệp 1 là: TR1 = P.Q1 = f(Q).Q1 = f(Q1 + Q2).Q1 Do Q2 là sản lượng mà hãng 1 dự báo hãng 2 sẽ sản xuất theo hàm phản ứng của hãng 2, ta thay hàm phản ứng này vào công thức tổng doanh thu trên và kết quả ta có: TR1 = f(Q1 + h(Q1)).Q1 =>MR1

Sản lượng tối ưu hãng 1: MR1 = MC1

Thay Q1 trở lại hàm phản ứng của hãng 2, ta sẽ xác định được mức sản lượng tối ưu của hãng 2. Khi đó, giá bán sản phẩm trên thị trường sẽ là P = f(Q1 + Q2).

*Mô hình đường cầu gãy khúc và tính cứng nhắc về giá

Năm 1939, P.Sweezy xuất bản một bài báo trong đó, ông giới thiệu mô hình đường cầu gãy khúc để xác định điểm cân bằng trong thị trường độc quyền tập đoàn.

-70-

Theo mô hình này, đường cầu của hãng độc quyền tập đoàn là một đường gẫy khúc (điểm E trong hình 5.12). Khi một hãng giảm giá, hãng sẽ cho rằng đối thủ cạnh tranh cũng sẽ giảm giá theo, do đó mặc dù cầu trên thị trường tăng nhưng thị phần của các hãng có thể vẫn không đổi. Tuy nhiên, khi hãng tăng giá, đối thủ có thể sẽ không có hành vi tương tự, và hãng sẽ mất đi một lượng khách hàng đáng kể của mình chuyển sang mua sản phẩm của các hãng khác. Do đó, khi giá tăng cao hơn P* (tương ứng tại điểm gẫy khúc) thì đường cầu sẽ thoải hơn đoạn cầu ở dưới.

Hình 5.12: Mô hình đường cầu gãy

Như vậy, đường cầu gãy khúc là sự hợp thành của hai đoạn cầu riêng biệt có độ dốc khác nhau. Mỗi đoạn cầu này có đường doanh thu cận biên riêng biệt (tương ứng là MR1 và MR2) và có một khoảng gián đoạn giữa hai đoạn doanh thu cận biến này.

Chính khoảng gián đoạn này giải thích quan trọng cho hành vi của các hãng độc quyền tập đoàn. Sự giảm xuống của chi phí sản xuất thường dẫn đến gia tăng sản lượng và giảm mức giá bán, nhưng điều này có thể không đúng với độc quyền tập đoàn.

Trong hình 5.12, Q* là sản lượng tối ưu cho không chỉ ở mức chi phí MC1 mà cả MC2 hoặc MC bất kỳ nằm trong khoảng gián đoạn của đường doanh thu cận biên, và khi đó mức giá “cứng nhắc” tại P* . Mức giá kém linh hoạt này được giải thích bởi cá nhân một hãng không thể hạ giá mà không bị trả đũa và cũng không thể nâng giá mà không bị tổn thất về thị phần.

-71-

PHẦN ÔN TẬP CÂU HỎI ĐÚNG SAI

1. Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo chỉ tiếp tục sản xuất khi có lãi.

2. Nhà độc quyền bán luôn có đường cung dốc lên

3. Tại mức sản lượng tối đa hoá lợi nhuận, hãng độc quyền có chi phí cận biên thấp hơn giá bán.

4. So với cạnh tranh hoàn hảo, nhà độc quyền sản xuất nhiều hơn nhưng đặt giá cao hơn

5. Đánh thuế cố định 1 lần không làm thay đổi giá cả và sản lượng của nhà độc quyền bán

BÀI TẬP Bài 5.1

Một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo sản xuất hàng hoá X có hàm tổng chi phí: TC = q 2 + 6q + 144

a. Xác định các hàm chi phí: FC, VC, ATC, AVC, MC của doanhnghiệp.

b. Nếu giá của hàng hoá X trên thị trường là 46 đơn vị thì lợi nhuận tối đa doanh nghiệp có thể đạt được là bao nhiêu?

c. Xác định sản lượng hoàvốn của doanh nghiệp.

d. Nếu giá trên thị trường là 5 đơn vị thì quyết định của doanh nghiệp như thế nào?

Bài 5.2

Một doanh nghiệp độc quyền có đường cầu là Q = 30 - 2,5P và các chi phí sau:

MC = 1,2Q + 4; FC = 5

a. Xác định sản lượng, giá bán và lợi nhuận khi doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận và tối đa hoá doanh thu?

b. Tính thặng dư tiêu dùng, thặng dư sản xuất tại mức sản lượng đạt được tối đa hoá lợi nhuận.

c. Nếu đánh thuế 1$/sản phẩm thì quyết định sản xuất sẽ thay đổi như thế nào?

d. Khi nhà độc quyền thực hiện phân biệt giá hoàn hảo, lợi nhuận thu thêm được là bao nhiêu?

e. Minh hoạ các kết quả trên đồ thị.

Bài 5.3

Giả sử một nhà độc quyền có chi phí biên cố định là 5 nghìn đồng/đvsp. Hàm số cầu của thị trường độc quyền này là : Q = 53 - P .

a. Hãy xác định sản lượng để lợi nhuận của nhà độc quyền là tối đa. Khi đó, lợi nhuận tối đa là bao nhiêu ?

-72-

b. Sản lượng sẽ là bao nhiêu nếu thị trường nói trên là thị trường cạnh tranh hoàn hảo ? Hãy cho nhận xét về sản lượng và giá trong trường hợp này so với trường hợp độc quyền.

c. Hãy xác định thặng dư tiêu dùng trong Câu b. Hãy chứng tỏ rằng thặng dư tiêu dùng trong trường hợp này lớn hơn lợi nhuận của nhà độc quyền cộng với thặng dư tiêu dùng trong trường hợp độc quyền.

Bài 5.4:

Một thị trường độc quyền gồm 2 hãng cạnh tranh với nhau, sản xuất sản phẩm giống nhau và biết đường cầu thị trường là P= 50-Q, hàm chi phí biên mỗi hãng MC=10.

a. Tìm hàm phản ứng của mỗi hãng để tối đa hóa lợi nhuận b. Tìm sản lượng tối ưu của mỗi hãng, giá bán trên thị trường ?

c. Nếu hãng 1 là hãng quyết định sản lượng trước, hãy cho biết giá và sản lượng tối ưu của mỗi hãng sẽ thay đổi như thế nào ?

BÀI ĐỌC NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG CHƯƠNG 5

Vì sao dù thị trường hàng không Việt Nam chỉ có 3 doanh nghiệp tham gia nhưng vẫn tốt cho người tiêu dùng?

05/04/2017 Nếu hàng không Việt Nam trở thành một thị trường theo kiểu độc quyền nhóm thì rất có thể 3 hãng bay Vietnam Airlines, Jetstar và Vietjet Air sẽ cạnh tranh quyết liệt không khoan nhượng với nhau, qua đó giúp chúng ta được mua vé dễ hơn và với giá rẻ hơn.

-73-

Câu chuyện cạnh tranh giữa 3 hãng hàng không hàng đầu Việt Nam là Vietnam Airlines, Jetstar và Vietjet Air từ lâu đã là một chủ đề tốn nhiều giấy mực của báo chí.

Gần đây, thông tin về việc sẽ có mức giá sàn mua vé máy bay lan rộng đã khiến cuộc cạnh tranh này lại được nhắc đến. Mức giá sàn trên, nếu xuất hiện sẽ gây không ít bất lợi cho các hãng hàng không giá rẻ nội địa như Vietjet Air.

Vì sao các nhà kinh tế cho rằng dù thị trường chỉ có 3 doanh nghiệp nhưng điều này vẫn là lựa chọn tốt nhất cho người tiêu dùng?

"Thị trường độc quyền nhóm" với thế chân vạc Vietnam Airlines - Jetstar - Vietjet Air

Từ cái nhìn kinh tế học, thị trường hàng không Việt Nam lúc này có thể được xem như một "thị trường độc quyền nhóm" (Group Monopoly Market).

Về định nghĩa thì đây là nơi mà hàng hóa sẽ chỉ được cung cấp bởi một số lượng nhỏ các công ty rất lớn. Các công ty nhỏ hơn, hay mới gia nhập thị trường sẽ thường rất khó để làm nên chuyện bởi lẽ rảo cản gia nhập thị trường là quá lớn. Một ví dụ là thị trường bóng tennis ở Mỹ, nơi chỉ có đúng 4 công ty là Wilson, Penn, Dunlopm, Spalding nhưng sản xuất gần như toàn bộ số bóng bán ra trên thị trường.

Quay trở về Việt Nam thì tổng miếng bánh thị phần của cả 3 hãng Vietnam Airlines, Jetstar và Vietjet Air hiện là gần 100%. Con số này đủ to để bất cứ một hãng bay lạ hoắc nào cũng phải từ bỏ giấc mơ chen chân vào giữa thế chân vạc vững chắc này.

Cùng với đó, nếu quy định giá sàn được chính thức thực hiện thì sẽ không còn bất cứ hãng bay nào được gọi với cái tên ‘giá rẻ’. Từ đó, sự cạnh tranh lẫn nhau giữa các hãng bay sẽ toàn diện hơn ở khía cạnhsản phẩm chứ không còn chỉ ở giá

-74-

nữa. Chính đặc điểm này càng làm nổi bật lên tính "độc quyền nhóm" của thị trường hàng không Việt Nam.

Vậy, câu hỏi đặt ra là kết cục của "thị trường độc quyền nhóm" gồm Vietnam Airlines, Jetstar và Vietjet Air sẽ như thế nào ? Theo các nhà kinh tế học, sẽ có thể xảy ra 2 kịch bản xảy ra.

Có thể 3 hãng bay sẽ liên minh lại và rút cục người mua vé sẽ thiệt thòi rất nhiều ?

Kịch bản đầu tiên với một thị trường "độc quyền nhóm" là các công ty sẽ liên kết với nhau thành một liên minh kinh tế. Kinh tế học gọi một liên minh kiểu này là một các-ten (cartel).

Ở nền kinh tế thật, có rất nhiều thị trường bị chi phối bởi một nhóm các nhà cung cấp, và vì thế, sự xuất hiện của các các-ten không phải là lạ. Một các-ten nổi tiếng trên thế giới là OPEC, nơi quy tụ các nước xuất khẩu một lượng dầu lớn và thống trị toàn bộ giá cả, sản lượng của thị trường dầu thế giới.

Quay về với câu chuyện hàng không thì sẽ có một lựa chọn cho cả 3 hãng bay là cùng liên kết với nhau với nhau để tạo ra một các-ten giống như OPEC. Liên minh này sẽ độc quyền cung cấp dịch vụ bay tại Việt Nam, với bất cứ giá nào người mua vé máy bay buộc phải chịu.

Thực ra, lý thuyết là vậy, còn thực tế thì điều này rất khó xảy ra. Bởi lẽ, các các- ten thường có thể bán ra hàng hóa với giá rất cao và ép người mua buộc phải mua (vì họ không thể mua ở đâu khác).

Vì thế, các bộ luật bảo vệ người tiêu dùng thường ra sức ngăn cản việc tồn tại của các các-ten. Thậm chí, ở nhiều sách vở, các các-ten còn được chỉ đích danh là nguyên nhân làm triệt tiêu sự tồn tại của kinh tế thị trường.

Ở Việt Nam, Luật cạnh tranh 2014 có những quy định để ngăn cản các liên minh độc quyền sống sót ví dụ như Điều 9 quy định về Hành vi thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Vì thế, khả năng có một các-ten giữa Vietnam Airlines, Jetstar và Vietjet Air có lẽ sẽ rất khó xảy ra.

Nhưng có thể các hãng sẽ cạnh tranh quyết liệt hơn và rút cục người mua được hưởng lợi rất nhiều

Một kịch bản dễ xảy ra hơn là cả 3 hãng bay sẽ cạnh tranh quyết liệt với nhau trên thị trường độc quyền nhóm. Theo các nhà kinh tế, sự cạnh tranh này sẽ dẫn đến một điểm cân bằng mà chính người mua vé chúng ta sẽ được hưởng lợi nhiều nhất.

Tại sao lại thế ? Hãy thử xem một ví dụ rằng trong thành phố chỉ có 2 người A, B làm dịch vụ cung cấp nước sạch. Như vậy, thị trường cung cấp nước sạch trong thành phố chính là một thị trường độc quyền nhóm (nhị quyền).

-75-

Càng nhiều hàng được sản xuất thì giá càng rẻ là do quy luật của nguồn cung Bảng ở trên đây cho thấy những chỉ số của thị trường cung cấp nước sạch này.

Hãy xem bây giờ A và B sẽ tính toán thế nào trong cuộc cạnh tranh lẫn nhau.

Nhìn vào bảng có thể thấy tổng doanh thu thị trường sẽ được tối đa hóa tại sản lượng 60 thùng và giá 60 nghìn/thùng (3,6 triệu tổng doanh thu toàn thị trường). Do vậy, cả A và B sẽ quyết định sản xuất và bán tại mức giá này.

Giả sử rằng A dự đoán B sản xuất 30 thùng (một nửa sản lượng thị trường). A sẽ lập luận rằng: “Ta cũng có thể làm 30 thùng. Tổng cộng 60 thùng được bán trên thị trường với giá 60 nghìn/thùng, doanh thu của ta là 1,8 triệu (30 thùng x 60 nghìn)".

Tuy nhiên, A nghĩ thêm: "Nhưng ta có thể làm đến 40 thùng. Khi đó sẽ có tổng cộng 70 thùng nước được bán với giá 50 nghìn/thùng. Doanh thu của ta sẽ là 2 triệu (40 thùng x 50 nghìn), cao hơn trước. Vậy cứ làm 40 thùng đi".

Tất nhiên B cũng đủ thông minh để nghĩ tương tự. Từ đó, cả A và B cùng cung ứng 40 thùng nước cho thành phố. Tổng lượng bán ra sẽ là 80 thùng, giá giảm xuống còn 40 nghìn/thùng và mỗi người thu doanh thu 1,6 triệu (80 thùng x 40 nghìn)

Đến lúc này, cả A, B sẽ dừng lại mà không cạnh tranh nữa bởi cả 2 cùng nghĩ:

"Doanh thu đang 1,6 triệu. Nếu mình tăng lên 50 thùng thì cả thị trường có tổng cộng 90 thùng được bán với giá 30 nghìn/thùng. Như vậy, doanh thu của ta chỉ là 1,5 triệu (50 thùng x 30 nghìn), ít hơn trước. Thế thôi, dừng không sản xuấtnữa".

-76-

Kết cục của cuộc cạnh trạnh độc quyền giữa A và B là cả 2 sẽ dừng ở mức mỗi người sản xuất 40 thùng với giá 40 nghìn/thùng. So với lúc trước là mỗi người sản xuất 30 thùng và giá thị trường là 60 nghìn/thùng thì đúng là người dân trong thành phố đã được mua nhiều nước sạch hơn với giá rẻ hơn.

Kinh tế học gọi điểm cân bằng trên thị trường này là cân bằng Nash (Nash equilibrium).

Tương tự về 3 hãng bay tại Việt Nam mà chúng ta đang nói đến thì rất có thể, sự cạnh tranh khốc liệt không khoan nhượng sẽ giúp người mua chúng ta được mua vé dễ dàng hơn (nhiều vé hơn) và với mức giá rẻhơn.

Vượng Lê Theo Trí Thức Trẻ Nguồn: http://cafebiz.vn/why-vi-sao-du-thi-truong-hang-khong-viet-nam-chi-co-3- doanh-nghiep-tham-gia-nhung-van-tot-cho-nguoi-tieu-dung-20170404230859023.chn Câu hỏi thảo luận:

1. Tại sao ngành hàng không Việt Nam được coi là thị trường độc quyền nhóm?

Theo bạn nguyên nhân dẫn đến cấu trúc thị trường này là gì?

2. Theo bạn, các hãng bay tại Việt Nam sẽ theo kịch bản nào mà các nhà kinh tế đã đưa ra ở trên? Giải thích vì sao?

3. Tại sao người tiêu dùng vẫn được lợi trong thị trường độc quyền nhóm trong trường hợp này?

-77-

CHƯƠNG 6: THỊ TRƯỜNG YẾU TỐ SẢN XUẤT

Một phần của tài liệu BÀI GIẢNG MÔN: KINH TẾ VI MÔ (Trang 69 - 78)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(95 trang)