Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về ATTP của NCB

Một phần của tài liệu Thực trạng an toàn thực phẩm và một số yếu tố liên quan đến kiến thức thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại các bếp ăn tập thể khu công nghiệp tỉnh tiền giang năm 2018 (Trang 30 - 34)

Việc xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức về ATTP của NCB tại các BATT có ý nghĩa quan trọng trong việc triển khai các can thiệp tiếp theo hoặc đưa ra

các khuyến nghị, giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác ATTP. Vì vậy, đã có nhiều nghiên cứu được triển khai nhằm tìm hiểu các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về ATTP.

Các yếu tố liên quan đến kiến thức của người chế biến - Tuổi nghề có mối liên quan đến kiến thức ATTP

Điều này được thể hiện qua kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Phúc (2016):

NCB có thời gian làm việc trên 5 năm có tỉ lệ đạt kiến thức ATTP cao gấp 3,8 lần so với NCB có thời gian làm việc dưới 5 năm [24]. Kết quả nghiên cứu này còn thấp hơn kết quả nghiên cứu của Đào Thị Thanh Thùy (2015): những người có thời gian làm bếp trên 5 năm có kiến thức đúng cao gấp 4,5 lần những người có thời gian làm bếp dưới 5 năm [28].

- Tập huấn kiến thức có mối liên quan đến kiến thức ATTP

Điều này được thể hiện qua kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích San (2011): những người được tập huấn có kiến thức về ATTP cao gấp 3,2 lần so với những người không được tập huấn (p < 0.05) [26]. Kết quả nghiên cứu này thấp hơn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Phúc (2016): NCB có tập huấn có tỷ lệ đạt kiến thức ATTP cao gấp 15,56 lần so với NCB không có tập huấn kiến thức ATTP [24].

- Trình độ học vấn có mối liên quan đến kiến thức ATTP

Điều này được thể hiện qua kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích San (2011): người có trình độ học vấn trên THPT có kiến thức ATTP cao gấp 4,77 lần so với những người có TĐHV từ tốt nghiệp THPT trở xuống (p < 0.05) [26]. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Phúc (2016): NCB có TĐHV trên THCS cao gấp 4,34 lần so với NCB có TĐHV từ THCS trở xuống [24].

- Trình độ chuyên môn có mối liên quan đến kiến thức ATTP

Điều này được thể hiện qua kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích San 2011): những người có chuyên môn sơ cấp nấu ăn có kiến thức về ATTP cao gấp 4,3 lần so với những người không được đào tạo (p<0.05) [26]. Kết quả nghiên cứu này cao hơn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thạc Cường (2015): những người được đào tạo

chuyên môn về chế biến thực phẩm có kiến thức về ATTP tốt hơn những người không được đào tạo 2,5 lần (p<0.05) [22].

Các yếu tố liên quan đến thực hành về ATTP của NCB - Tuổi nghề có mối liên quan đến thực hành ATTP

Điều này được thể hiện qua kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Phúc (2016):

NCB có thời gian làm việc trên 5 năm có tỉ lệ đạt thực hành ATTP cao gấp 5,72 lần so với NCB có thời gian làm việc dưới 5 năm [24].

- Tập huấn kiến thức có mối liên quan đến thực hành ATTP

Điều này được thể hiện qua kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Phúc (2016):

NCB có tập huấn kiến thức ATTP có tỷ lệ đạt thực hành ATTP cao gấp 7,22 lần so với NCB không có tập huấn kiến thức ATTP [24].

- Kiến thức có mối liên quan đến thực hành ATTP

Điều này được thể hiện qua kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích San (2011): NCB có kiến thức ATTP đạt yêu cầu sẽ có thực hành đạt yêu cầu cao gấp 5,3 lần người có kiến thức không đạt yêu cầu (p<0.05) [26]. Kết quả nghiên cứu này cao hơn kết quả nghiên cứu của Đào Thị Thanh Thùy (2015): những người có kiến thức đúng về ATTP sẽ có thực hành đúng về ATTP cao gấp 4,2 lần so với những người có kiến thức chưa đúng [28].

- Trình độ học vấn có mối liên quan đến thực hành ATTP

Điều này được thể hiện qua kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích San (2011): trình độ học vấn của NCB tốt nghiệp từ THPT trở lên có thực hành đạt cao gấp 4,9 lần so với NCB có trình độ học vấn tốt nghiệp THCS và tiểu học (p<0.05) [26]. Kết quả nghiên cứu này thấp hơn kết quả nghiên cứu của Đào Thị Thanh Thùy (2015):

người có trình độ học vấn từ THCS trở lên có thực hành đúng về ATTP cao gấp 12,8 lần so với những người có trình độ học vấn từ THCS trở xuống [28].

- Trình độ chuyên môn có mối liên quan đến thực hành ATTP

Điều này được thể hiện qua kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích San (2011): người có đào tạo chuyên môn về CBTP có thực hành ATTP cao gấp 3,2 lần so với những người không được đào tạo (p < 0.05) càng tốt [26].

Hạn chế của một số nghiên cứu trên: nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích San được thực hiện trước khi ban hành Thông tư số 15/2012/TT-BYT ngày 12/9/2012 của Bộ Y tế “Quy định về điều kiện chung đảm bảo ATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm” [6] và Thông tư số 30/2012/TT-BYT ngày 05/12/2012 của Bộ Y tế

“Quy định về điều kiện ATTP đối với cơ sở kinh doanh DVAU, kinh doanh thức ăn đường phố” [7]. Do đó, thực hiện một số nghiên cứu mới dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành trong thời gian gần đây là rất cần thiết để có những kết quả chính xác và phù hợp hơn.

Qua các nghiên cứu trên đều chỉ ra mối liên quan giữa kiến thức với thực hành hay mối liên quan giữa các yếu tố như: tuổi nghề, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, tập huấn kiến thức ATTP, kiến thức ATTP, … có liên quan với kiến thức và thực hành về ATTP mà chưa xem xét yếu tố tiếp cận nguồn thông tin, thanh kiểm tra của các cơ quan chức năng, loại hình tổ chức BATT, người chịu trách nhiệm bếp, cơ sở được cấp phép về ATTP có mối liên quan đến kiến thức chung và thực hành chung đúng của NCB hay không? Mà chỉ dừng lại ở việc mô tả các chỉ số điều kiện của biến số nghiên cứu mà chưa xác định được các biến số nghiên cứu đó có đạt yêu cầu theo quy định hay không? và đạt ở mức độ nào? Ngoài ra, các nghiên cứu trên phân tích kiến thức và thực hành của đối tượng nghiên cứu còn bao quát chung chung mà chưa khu trú kiến thức và thực hành về ATTP theo từng nhóm cụ thể để từ đó có biện pháp khuyến nghị cụ thể cho từng vấn đề còn tồn tại.

Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy kiến thức, thực hành về ATTP của NCB còn nhiều hạn chế nên đã vi phạm các quy định về ATTP và kiến thức chưa đi đôi với thực hành. Từ đó, đòi hỏi các cơ quan quản lý về ATTP tại địa phương phải tăng cường công tác phối hợp liên ngành trong kiểm tra, giám sát nhất là tập trung vào công

tác giáo dục, truyền thông về ATTP và cần có sự cố gắng rất lớn của bản thân người CBTP tại các cơ sở.

Một phần của tài liệu Thực trạng an toàn thực phẩm và một số yếu tố liên quan đến kiến thức thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại các bếp ăn tập thể khu công nghiệp tỉnh tiền giang năm 2018 (Trang 30 - 34)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(154 trang)