Hạn chế của nghiên cứu, sai số và cách khống chế sai số

Một phần của tài liệu Thực trạng an toàn thực phẩm và một số yếu tố liên quan đến kiến thức thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại các bếp ăn tập thể khu công nghiệp tỉnh tiền giang năm 2018 (Trang 44 - 47)

Chương 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.8. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và cách khống chế sai số

Không có thiết bị, dụng cụ để đo lường chính xác điều kiện ATTP tại BATT mà chỉ đánh giá qua yếu tố chủ quan của điều tra viên tại thời điểm quan sát.

Nghiên cứu này chưa thực hiện được xét nghiệm: nguồn nước sử dụng, nguyên liệu TP, PGTP, .... do kinh phí, thời gian và nguồn lực không cho phép nên chỉ dựa trên kết quả xét nghiệm định kỳ nguồn nước do cơ sở thực hiện cũng như đưa vào kiểm tra cảm quan, hồ sơ chứng minh nguồn gốc nguyên liệu TP, PGTP.

Không có đủ nguồn lực để quan sát toàn bộ thực hành của NCB (thực hành về rửa tay, thực hành về rửa rau, ... ) nên chỉ có thể thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn kết hợp quan sát, tuy nhiên NCB biết đang được quan sát cũng có thể ảnh hưởng tới thực hành của họ.

Đây là một nghiên cứu được thực hiện trong thời gian ngắn, nguồn lực và kinh phí hạn chế cùng với phương pháp nghiên cứu cắt ngang chỉ triển khai tại BATT các công ty tại Khu công nghiệp tỉnh Tiền Giang mà chưa tìm hiểu hết các BATT khác

trên địa bàn cũng như các loại hình kinh doanh khác của DVAU, các cơ sở sản xuất, kinh doanh TP. Do đó, chưa đánh giá được hết thực trạng điều kiện ATTP BATT các công ty cũng như các loại hình kinh doanh khác của DVAU, các cơ sở sản xuất, kinh doanh TP hiện nay của tỉnh Tiền Giang.

2.8.2. Sai số của nghiên cứu - Sai số do quan sát.

- Sai số do ghi chép.

- Sai số đo lường có thể trong khi làm test nhanh tinh bột, dầu mỡ.

- Sai số người phỏng vấn (Do ĐTNC được giải thích về mục đích của nghiên cứu trước khi tham gia phỏng vấn, nên đối tượng có thể dò hỏi, tìm hiểu thông tin trước khi tham gia trả lời phỏng vấn).

- Sai số do điều tra viên hỏi dưới dạng gợi ý.

- Sai số do thu thập thông tin không đúng thời điểm (Do điều tra lúc đang nhiều việc, NCB trả lời qua loa, không tập trung).

- Sai số do người được phỏng vấn trả lời không chính xác vì chưa hiểu rõ câu hỏi hoặc trả lời không trung thực.

- Sai số do được thông báo trước.

2.8.3. Cách khống chế sai số 2.8.3.1. Đối với nghiên cứu viên

- Trực tiếp là giám sát viên trong suốt quá trình điều tra, thu thập số liệu.

- Để hạn chế sai số khi thu thập thông tin, tôi tiến hành nghiên cứu thăm dò thử nghiệm 10 BATT nhằm kiểm tra chất lượng thông tin và bộ câu hỏi trước khi thực hiện nghiên cứu tại các BATT. Trên cơ sở thử nghiệm, tôi chỉnh sửa và hoàn thiện bộ công cụ để tiến hành nghiên cứu chính thức.

- Tập huấn kỹ cho điều tra viên.

- Nghiên cứu viên trực tiếp điều tra 50% số phiếu điều tra trở lên.

- Nghiên cứu viên thu thập, kiểm tra, xem xét lại các phiếu phỏng vấn sau mỗi ngày điều tra. Các phiếu điều tra được kiểm tra cuối mỗi ngày khi nộp phiếu, với

những phiếu thông tin thu thập chưa đầy đủ hoặc không hợp lý thì yêu cầu điều tra viên bổ sung.

2.8.3.2. Đối với giám sát viên

Tổ chức thực hiện giám sát chặt chẻ trong quá trình điều tra.

2.8.3.3. Đối với điều tra viên

- ĐTV là người có chuyên môn về ATTP, kỹ năng phỏng vấn tốt để thu thập thông tin một cách tối đa (ĐTV là nghiên cứu viên, chuyên viên Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, cán bộ Khoa An toàn vệ sinh thực phẩm của Trung tâm Y tế thành phố Mỹ Tho, Châu Thành, Tân Phước).

- Không giải thích quá sâu về nội dung của nghiên cứu để được câu trả lời khách quan từ đối tượng, hạn chế sai số do người phỏng vấn.

- Được tập huấn chi tiết cách điều tra, thu thập số liệu (cả về phương pháp phỏng vấn, ghi chép cẩn thận, cách tiếp cận và tạo không khí thoải mái để đối tượng vui vẻ trả lời).

- Có thể mời đối tượng phỏng vấn ra chỗ khác, không ngồi cùng người quản lý BATT để có thể thu được thông tin chính xác hơn.

- Không thực hiện phỏng vấn đối tượng vào thời gian cao điểm, để dễ tiếp cận đối tượng nghiên cứu và thu được thông tin đầy đủ, chính xác hơn.

- Kiểm tra xem xét lại các phiếu sau khi thu thập thông tin, đối chiếu các thông tin trên mẫu và trên phiếu gửi mẫu.

2.8.3.4. Đối với đối tượng được phỏng vấn

- Được giải thích rõ mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra, phỏng vấn để đối tượng hiểu rõ và chấp nhận hợp tác.

- Tạo điều kiện tốt nhất để hiểu rõ câu hỏi và trả lời trung thực, rõ ràng.

2.8.3.5. Đối với cán bộ lấy mẫu và làm test nhanh

Là chuyên viên Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, cán bộ Khoa An toàn vệ sinh thực phẩm của Trung tâm Y tế thành phố Mỹ Tho, Châu Thành, Tân Phước.

Một phần của tài liệu Thực trạng an toàn thực phẩm và một số yếu tố liên quan đến kiến thức thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến tại các bếp ăn tập thể khu công nghiệp tỉnh tiền giang năm 2018 (Trang 44 - 47)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(154 trang)