Suggestions for further study

Một phần của tài liệu Methods applied in translating the second chapter of kenneth grahame’s the wind in the willows (Trang 47 - 96)

To overcome the stated limitations, for those who find the subject of translation methods inspiring and worth paying attention to, it is recommended that further studies should be carried out to cover the existing drawbacks. Specifically, researches on translation methods should be conducted in both English-Vietnamese and Vietnamese-English translation, using a larger sample, so that the research results would be much more objective and meaningful.

40

REFERENCE LIST

Baker, M 1992, In other words: A course book on translation, London: Routledge.

Bernacka, A 2012 „The Importance of Translation Studies for Development

Education‟, Policy & Practice: A Development Education Review, Vol. 14, Spring 2012, pp. 113-118.

Bell, R 1991, Translation and translating: theory and practice. Longman, United State.

Carrol, JB 1966, “An Experiment in Evaluating the Quality of Translations,” in Mechanical Translation 9, pp. 55-66.

David, D 2003, What is world literature?, Princeton University Press, United Kingdom.

Finlay, I 1971, Teach Yourself Books: Translating, English Universities Press, London.

Larson, ML 1984, Meaning-Based Translation: A Guide to Cross Language Equivalence. University of America, USA.

Newmark, P 1995, A textbook of translation, Prentice Hale International, London and New York.

Newmark, P 2006, Approaches to translation, Cambridge University Press, Cambridge.

Nida, E 1964, Towards a Science of Translating, E. J. Brill, Leiden.

Nida, E. & Taber, C 1969, The Theory and Practice of Translation, E. J. Brill, Leiden.

Nida, E & Taber, C 1974, The Theory and Practice Translation, E. J. Brill, Leiden.

Toan, T 1999, Khong phai cua rieng ai, NXB Van Hoc, Ha Noi.

APPENDIX

TRANSLATION METHODS APPLIED BY EACH TRANSLATOR

No. Source text Target text translated by Nguyen Tam

Target text translated by Cam Linh

1. THE OPEN ROAD

CON ĐƯỜNG RỘNG MỞ

LITERAL

TRANSLATION METHOD

ĐƯỜNG CÁI

FAITHFUL TRANSLATION METHOD

2.

„RATTY,‟ said the Mole suddenly, one bright summer morning, „if you please, I want to ask you a favour.‟

The Rat was sitting on the river bank, singing a little song.

He had

just composed it himself, so he was very taken up with it, and would not pay proper attention to Mole or anything

“Chuột Nước ơi,” bỗng Chuột Chũi n i vào một sớm hè rực rỡ, “mong cậu vui lòng cho tớ được xin một ân huệ.”

Chuột Nước đang ngồi trên bờ sông mà hát một bài ca bình dị. Vừa sáng tác ra bài hát đ nên Chuột Nước còn để hết tâm trí vào đ , và nó chẳng màng quan tâm đến riêng Chuột Chũi hoặc bất kỳ ai khác. Từ sáng sớm n đã xuống s ng bơi lội cùng lũ bạn vịt của mình.

Và khi lũ vịt bỗng nhiên

Một sáng hè đẹp trời, Chuột Chũi chợt hỏi Chuột Sông:

“Chuột S ng ơi, tớ nhờ cậu cái này c được kh ng?”

Chuột S ng đang ngồi trên bờ sông nghêu ngao hát. Nó vừa mới sáng tác xong nên còn đang mê mẩn với bài hát ấy, chẳng chú ý đến Chuột Chũi hay bất cứ điều gì khác. Từ sáng sớm n bơi lội dưới sông với bầy vịt bạn nó. Có những lúc bất chợt lũ vịt vục đầu xuống nước, nhà vịt vẫn thường làm thế mà.

Chuột Sông lặn xuống và cù

2 else. Since early

morning he had been swimming in the river, in company with his friends the ducks. And when the ducks stood on their heads

suddenly, as ducks will, he would dive down and tickle their necks, just under where their chins would be if ducks had chins, till they were forced to come to the surface

again in a hurry, spluttering and angry and shaking their feathers at him, for it is

impossible to say quite all you feel when your head is under water. At last they implored him to

cắm đầu xuống nước chổng đu i lên trời, loài vịt vẫn có thói quen ấy, thì nó lặn xuống mà cù vào cổ chúng, ngay phía dưới cằm, nếu như mà vịt có cằm, cho tới khi chúng buộc phải vội vã ngoi lên mặt nước, vừa lắp bắp vừa giận dữ giũ l ng vào nó, bởi vì khi đầu ở dưới nước thì không thể nào n i được tất cả những gì mình cảm nghĩ. Cuối cùng, chúng van xin nó hãy đi nơi khác mà lo liệu công việc của mình và để cho chúng tự lo liệu công việc của chúng. Vì vậy Chuột Nước bỏ đi và ngồi sưởi nắng trên bờ sông, rồi sáng tác ra một bài ca về lũ vịt mà n đặt tên là:

LITERAL

TRANSLATION METHOD

vào cổ chúng, ngay chỗ dưới cằm, cho đến khi chúng không chịu nổi phải ngoi vội lên mặt nước, ho sặc sụa và giận dữ vùng vẫy. Khó có thể diễn tả hết được người ta cảm thấy gì khi đầu bị nhúng dưới nước. Cuối cùng lũ vịt phải khẩn khoản đề nghị Chuột S ng hãy đi chỗ khác chơi và để mặc chúng. Thế là Chuột S ng đi. N ngồi tắm nắng trên bờ sông và sáng tác ngay một bài hát về lũ vịt, mà n đặt tên là:

SEMANTIC TRANSLATION METHOD

3 go away and attend to

his own affairs and leave them to mind theirs. So the Rat went away, and sat on the river bank in the sun, and made up a

song about them, which he called:

3.

„DUCKS‟ DITTY.‟

All along the

backwater, Through the rushes tall, Ducks are a-dabbling, Up tails all!

Ducks‟ tails, drakes‟

tails, Yellow feet a- quiver, Yellow bills all out of sight Busy in the river!

Slushy green

BÀI CA NGẮN VỀ LŨ VỊT

Suốt dọc vùng nước nông, Qua đám c i cao vút, Lũ vịt bì bõm bơi, Đu i chổng hết lên trời!

Nào đu i vịt đực, nào đu i vịt cái,

Những bàn chân vàng run rẩy,

Chẳng thấy những chiếc mỏ vàng

Bận rộn dưới nước sông.

Nơi cỏ tóc tiên xanh biếc vấy bùn

Bọn cá trắm tung t ng bơi

ĐOẢN KHÚC VỊT

Theo dòng nước mát Nghe đám c i hát Đàn vịt xinh xinh Cùng chổng đu i bơi!

Chị vịt, anh vịt

Chân vàng khỏa nước Mỏ vàng kiếm n Dòng sông nhộn nhịp

Dưới đáy bùn rong Lũ cá thong dong

4 undergrowth where

the roach swim.

Here we keep our larder.

Cool and full and dim.

Everyone for what he likes! We like to be Heads down, tails up, Dabbling free!

High in the blue above Swifts whirl and call.

We are down a- dabbling Up tails all!

lội –

Ta đặt tủ thức n ở đây, Vừa mát vừa đầy lại vừa tối.

Ai muốn gì thì muốn, Chúng ta chỉ muốn được Đầu chúi xuống nước, đu i chổng lên trời, Tha hồ vầy nước lội bơi!

Tít trên bầu trời xanh Đàn én vừa lao nhanh vừa gọi,

Chúng ta ở dưới này bì bõm bơi,

Đu i chổng hết lên trời!

ADAPTATION TRANSLATION METHOD

Là kho thức n Tươi ngon dồi dào

Thích gì làm nấy!

Ngụp đầu, chổng đu i Vịt thích lắm đấy Bơi lội tung t ng!

Trời cao trong xanh Chim én lượn quanh Bầy vịt bơi nhanh Cùng chổng đu i lên!

ADAPTATION TRANSLATION METHOD

4.

“I don‟t know that I think so very much of that little song, Rat,‟

observed the Mole cautiously. He was no poet himself and

“Tớ biết là tớ không có ý kiến bình phẩm nhiều lắm về ca khúc ngắn ấy,”

Chuột Chũi cẩn trọng phát biểu. Bản thân n đâu phải là nhà thơ cũng

Chuột Chũi ch m chú lắng nghe. Nó vốn chẳng có máu thi sĩ, cũng chẳng e ngại nếu mọi người biết điều đ , lại sẵn tính thật thà bộc trực, nó n i: “Chuột S ng ơi, tớ nghĩ

5 didn‟t care who knew

it; and he had a candid nature.

chẳng cần giấu điều đ , mà bản tính nó vốn bộc trực.

LITERAL

TRANSLATION METHOD

mãi mà vẫn không hiểu bài hát ấy.”

COMMUNICATIEV TRANSLATION METHOD

5.

„Nor don‟t the ducks neither,‟ replied the Rat cheerfully. „They say, “Why can‟t fellows

be allowed to do what they like when they like and as they like, instead of other fellows sitting on banks and watching them all the time and making remarks and poetry and things about them? What nonsense it all is!”

That‟s what the ducks say.‟ „So it is, so it is,‟

said the Mole, with great heartiness.

“Mà lũ vịt cũng thế th i,”

Chuột Nước vui vẻ trả lời.

“Chúng n bảo, „tại sao người ta kh ng được phép làm cái họ thích, vào lúc họ thích và theo cách họ thích, chứ đâu lại như những kẻ khác ngồi trên bờ s ng lúc nào cũng quan sát họ, bình phẩm họ và thơ thẩn về họ? Điều đ thậm v lý!‟ Lũ vịt nói thế đấy.”

“Đúng là như thế, đúng là như thế,” Chuột Chũi n i, rất chân thành.

“Kh ng, kh ng đúng!”

Chuột Nước nói, vẻ công phẫn.

“Vậy thì điều đ kh ng đúng, kh ng đúng,”

Chuột Sông hí hửng đáp:

“Họ nhà vịt cũng chẳng hiểu đâu, lại còn bảo tớ: “Đương nhiên là bọn này thích làm gì thì làm vào bất cứ lúc nào mà bọn này thích và chỉ bởi vì bọn này thích, vì người ta được ngồi trên bờ nhìn bọn này rồi bày đặt bình luận thơ thẩn về bọn này mà. Thật đúng là nhảm nhí quá đi mất.” Đấy, mấy cậu vịt đã bảo tớ thế đấy.”

“Đúng, các cậu ấy n i đúng lắm!” – Chuột Chũi n i đế.

“Đúng cái con khỉ!” – Chuột Sông bực dọc kêu.

“Ừ, đúng cái gì mà đúng, chẳng đúng gì sất!” – Chuột Chũi dịu giọng. – “Mà này,

6

„No, it isn‟t!‟ cried the Rat indignantly.

„Well then, it isn‟t, it isn‟t,‟ replied the Mole soothingly. „But what I wanted to ask you was, won‟t you take me to call on Mr.

Toad? I‟ve heard so much about him, and I do so want to make his acquaintance.‟

Chuột Chũi dịu dàng đáp.

“Nhưng điều mình muốn hỏi cậu là, cậu kh ng định dẫn tớ ghé th m anh bạn C c ư? Tớ nghe nói nhiều về cậu ấy lắm, và quả tình tớ muốn làm quen với cậu ấy.”

LITERAL

TRANSLATION METHOD

việc tớ muốn hỏi cậu là cậu có dẫn tớ đến nhà Cóc không? Tớ nghe nhắc đến Cóc nhiều rồi nên muốn gặp gỡ làm quen quá”

COMMUNICATIVE TRANSLATION METHOD

6.

„Why, certainly,‟ said the good-natured Rat, jumping to his feet and dismissing poetry from his mind for the day. „Get the boat out, and we‟ll paddle up there at once. It‟s never the wrong time to call on Toad. Early or late he‟s always the same fellow. Always good-tempered, always glad to see you, always sorry

“Ồ, nhất định rồi,” Chuột Nước hiền hậu vừa nói vừa đứng bật dậy, gác chuyện thơ phú lại, không nghĩ đến nữa trong ngày hôm ấy. “Lấy thuyền ra đi, chúng mình sẽ chèo đến đ ngay lập tức. Đến th m thằng Cóc thì lúc nào cũng được. Đến sớm hay đến muộn thì nó vẫn là cái thằng như thế. Lúc nào cũng hiền, lúc nào cũng vui mừng được gặp cậu, và lúc nào cũng buồn

“Hẳn rồi!” – Anh chàng Chuột Sông tốt tính đáp, nhảy lên như choi choi và quên béng luôn cả mớ thơ thẩn vừa rồi. “Lấy thuyền đi, bọn mình khởi hành ngay.

Bất cứ lúc nào ghé th m C c cũng hết sức là vui. Sáng sớm hay tối mịt thì vẫn luôn là anh chàng Cóc xởi lởi mừng rơn lên vì được gặp cậu và xị mặt vì buồn khi cậu ra về.

“Cậu ấy hẳn là đáng mến lắm!”

7 when you go!‟ „He

must be a very nice animal,‟ observed the Mole, as he got into the boat and took the sculls, while the Rat settled himself comfortably in the stern.

„He is indeed the best of animals,‟ replied Rat. „So simple, so good-natured, and so affectionate. Perhaps he‟s not very clever- we can‟t all be geniuses; and it may be that he is both boastful and

conceited. But he has got some great

qualities, has Toady.‟

Rounding a bend in the river, they came in sight of a handsome, dignified old house of mellowed red brick,

khi cậu ra về!”

“Anh chàng ấy hẳn phải là một con vật rất tế nhị,”

Chuột Chũi nhận xét khi n bước lên thuyền và nắm lấy mái chèo, trong khi đ Chuột Nước thoải mái ngồi vào một chiếc ghế bành phía đu i thuyền.

“N quả là đứa tốt nhất trong các con vật,” Chuột Nước đáp. “Rất bình dị, rất hiền hậu và rất nhiều tình cảm. Có lẽ nó không thông minh lắm – mà chúng ta đâu phải tất cả đều là thiên tài; và có thể là nó vừa hay khoác lác lại vừa tự cao tự đại.

Nhưng mà n c những phẩm chất tuyệt vời, thật đấy.”

Vòng qua một chỗ sông rẽ, chúng nhìn thấy một tòa nhà cổ kính, bề thế và đẹp đẽ làm bằng gạch màu phớt đỏ, với những

Chuột Chũi n i khi lên thuyền và nắm lấy mái chèo, còn Chuột Sông nằm ườn dưới lòng thuyền đáp: “Anh chàng cừ nhất đấy! Sống đơn giản, đ n hậu, niềm nở và tận tụy với mọi người. Ừ thì C c cư xử kh ng được khéo cho lắm, có phải ai cũng là thánh được đâu! À mà cậu ấy có thể hơi khoác lác, tự kiêu chút đỉnh, nhưng c bao nhiêu đức tính đấy còn gì, cậu Cóc ấy mà.”

Qua khúc ngoặt của dòng sông, chúng trông thấy một tòa nhà gạch đỏ cổ kính nguy nga, trước nhà có thảm cỏ được ch m giữ cẩn thận trải ra tới mới nước.

8 with well-kept lawns

reaching down to the water‟s edge.

bãi cỏ được ch m s c cẩn thận trải dài xuống tận mép nước.

SEMANTIC TRANSLATION METHOD

LITERAL

TRANSLATION METHOD

7.

„There‟s Toad Hall,‟

said the Rat; „and that creek on the left, where the notice board says, “Private.

No landing allowed,”

leads to his boat- house, where we‟ll leave the boat. The stables are over there to the right. That‟s the banqueting-hall

you‟re looking at now- very old, that is.

Toad is rather rich, you know, and this is really one of the nicest houses in these parts, though we never admit as much to Toad.‟

“Kia là Lâu đài C c,”

Chuột Nước n i, “còn cái nhánh sông mé tay trái, nơi c bảng thông cáo „Tư gia. Cấm đậu thuyền,‟ dẫn tới nhà để thuyền của nó.

Chúng mình sẽ để thuyền tại đ . Các chuồng gia súc thì ở đằng kia, bên mé tay phải. Kia là phòng tiệc, cái chỗ cậu đang nhìn ấy, đã cũ rồi. Thằng Cóc khá là giàu, cậu biết đấy, và tòa nhà này thật sự là một trong những tòa nhà đẹp nhất ở vùng này, tuy rằng bọn tớ không bao giờ thừa nhận như thế cả.”

LITERAL

TRANSLATION METHOD

Chuột S ng n i: “Dinh C c đấy! Còn cái lạch nước phía trái kia kìa, chỗ có biển báo

“Nhà riêng. Cấm neo thuyền” ấy, con lạch ấy dẫn vào nhà để thuyền của Cóc.

Mình sẽ để thuyền ở đ . Chuồng ngựa ở đằng kia, bên phải. Chỗ cậu đang thấy là phòng tiệc, trông rất cổ kính phải không? Cậu biết đấy, Cóc giàu ra phết nhé, chỗ này đúng là một trong những tòa nhà đẹp nhất vùng, dù mọi người chẳng bao giờ khẳng định điều đ với Cóc cả.”

FAITHFUL TRANSLATION METHOD

9 8.

They glided up the creek, and the Mole shipped his sculls as they passed into the shadow of a large boathouse.

Here they saw many handsome boats, slung from the

crossbeams or hauled up

on a slip, but none in the water; and the place had an unused and a deserted air.

The Rat looked around him. „I understand,‟ said he.

„Boating is played out.

He‟s tired of it, and done with it. I wonder what new fad he has taken up now? Come along and let‟s look him up. We shall hear

Thuyền của bọn chúng lướt ngược khúc sông nhánh, và Chuột Chũi thu mái chèo đặt vào bên trong khi chúng b ng qua bóng râm của một cái nhà để thuyền. Tại đây chúng nhìn thấy nhiều chiếc thuyền đẹp được treo lên các xà ngang hoặc được kéo lên một khoảng đất trống, tuyệt nhiên không có chiếc thuyền nào ở dưới nước; và nơi đây c vẻ bị bỏ hoang, không dùng đến nữa.

Chuột Nước nhìn quanh.

“Tớ hiểu,” n n i. “Trò bơi thuyền đã hết thời rồi.

N đã chán và đã xong việc với chuyện đ rồi. Tớ không biết bây giờ nó có cái thú nhất thời nào?

Nào, chúng mình tiếp tục đi tìm n . Rồi chúng mình sẽ được nó cho hay ngay th i mà.”

Chúng lên bờ và dạo bước

Chúng lướt đi theo lạch nước. Chuột Chũi gác mái chèo khi chúng tiến vào bóng mát của nhà để thuyền rộng lớn. Chúng thấy bao nhiêu là thuyền đẹp, bị treo lủng lẳng theo xà ngang hoặc kéo lên bờ, chẳng có cái nào dưới nước cả. Tất cả có vẻ bị bỏ hoang lâu ngày.

Chuột Sông nhìn quanh nói:

“Hiểu rồi! Hết mốt đi thuyền rồi! C c đã chán và kết liễu nó rồi. Không biết giờ này cậu ấy đang đua đòi theo đuổi cái gì nhỉ? Đi nào, xem cậu ấy ra sao! Chúng ta sẽ được nghe cậu ấy kể tường tận ngay thôi. Chúng lên bờ, nhẩn nha đi bộ qua bãi cỏ được trang trí những khóm hoa rực rỡ để tìm Cóc.

Chúng nhác thấy C c đang ngồi trên cái ghế đan bằng nhánh liễu gai, mặt ra chiều b n kho n tư lự nhìn tấm bản đồ lớn trải trong lòng.

10 all about it quite soon

enough.‟ They disembarked, and strolled across the gay flower-decked lawns in search of Toad, whom they presently happened upon resting in a wicker garden-chair, with a preoccupied

expression of face, and a large map spread out on his knees.

qua những bãi cỏ có trồng hoa trang trí rực rỡ để tìm thằng Cóc, và chẳng mấy chốc bắt gặp cu cậu đang ngồi yên trên một chiếc ghế gấp đan bằng liễu gai, mặt đầy vẻ b n kho n lo lắng, và có một tấm bảng đồ lớn trải rộng trên đầu gối.

LITERAL

TRANSLATION METHOD

SEMANTIC TRANSLATION METHOD

9.

„Hooray!‟ he cried, jumping up on seeing them, „this is

splendid!‟ He shook the paws of both of them warmly, never waiting for an introduction to the Mole.

„How kind of you!‟

he went on, dancing round them. „I was

“Hoan h !” C c vừa kêu to vừa đứng dậy khi nhìn thấy bọn chúng, “các cậu đến thật tuyệt vời!” N niềm nở bắt tay cả hai đứa, chẳng cần đợi được giới thiệu với Chuột Chũi.

“Các cậu tốt bụng quá,”

nó vừa nói tiếp vừa nhảy múa xung quanh hai đứa.

“Tớ vừa định phái một chiếc thuyền xuôi dòng sông tìm cậu, Chuột Nước

Thấy có bạn đến, nó bật dậy kêu toán lên: “Ô h , hai cậu đến thì hay quá! Kh ng đợi Chuột Sông giới thiệu Chũi, C c đã nồng nhiệt bắt tay cả hai. Rồi nó nhảy múa quanh chúng và nói liền một hơi:

“Tớ đang định cho người xuôi thuyền xuống chỗ cậu!

Chuột Sông ạ, phải nhất quyết lôi bằng được cậu lên đây kh ng chậm trễ, mặc cậu đang làm gì đi nữa. Tớ

Một phần của tài liệu Methods applied in translating the second chapter of kenneth grahame’s the wind in the willows (Trang 47 - 96)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(96 trang)