Tình hình sản xuất và tiêu thụ bánh kẹo trên thế giới và Việt Nam

Một phần của tài liệu Nghiên cứu quy trình sản xuất bánh gạo từ gạo lứt (Trang 25 - 29)

Đối với các nước có nền kinh tế phát triển, thu nhập và đời sống của người dân cao thì bánh kẹo được coi như là một loại sản phẩm thông dụng.

Bánh kẹo đƣợc sử dụng trong tất cả các ngày lễ nhƣ Giáng Sinh, lễ Tạ Ơn, Valentin.. và có mặt hầu hết trong mọi gia đình, đặc biệt là các gia đình có trẻ nhỏ. Trên thế giới, bánh kẹo thực sự là nền công nghiệp lớn mạnh với các sản phẩm hết sức phong phú và chất lƣợng sản phẩm rất cao đóng một vai trò không thể thiếu trong nền công nghiệp thực phẩm nói chung. Cũng nhƣ các mặt hàng khác trong khối thực phẩm, sản phẩm bánh kẹo chất lƣợng cao của các tập đoàn lớn đang tiến tới đặt cơ sở để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tại các nước có nền công nghiệp bánh kẹo kém hơn. (Đỗ Thị Mơ, 2011)[4]

2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ tại Việt Nam.

2.2.2.1. Quá trình phát triển và đặc điểm của ngành bánh kẹo Việt Nam.

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự gia tăng của quy mô dân số với cơ cấu trẻ, bánh kẹo là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định tại Việt Nam. Tổng giá trị ước tính năm 2009 khoảng 7673 tỷ đồng, tăng 5.43% so với năm 2008, đây là mức tăng thấp nhất kể từ năm 2005 do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cực đến nhu cầu tiêu dùng bánh kẹo, theo đó doanh số của ngành bánh kẹo được dự tính tăng trưởng khoàng 6.12% và 10% trong năm 2010 – 2014.

Ngành bánh kẹo Việt Nam có đặc điểm sau:

- Nguyên liệu chính của ngành bánh kẹo bao gồm bột mì, đường, còn lại là sữa trứng và các nguyên vật liệu khác. Trong đó nguyên vật liệu phải nhập khẩu là bột mì (gần như là toàn bộ) và đường (nhập một phần), hương liệu và một số chất phụ gia chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá thành. Chính vì vậy sự biến động của giá bột mì, đường trên thị trường thế giới sẽ có những tác động nhất định đến giá thành của bánh kẹo.

- Thị trường bánh kẹo Việt Nam có tính chất mùa vụ khá rõ nét. Sản lượng tiêu thụ thường tăng mạnh vào thời điểm tháng 8 âm lịch (tết trung thu) đến tết nguyên đán với các mặt hàng chủ lực mang hương vị truyền thống Việt Nam nhƣ bánh trung thu, kẹo cứng, mềm, bánh quy cao cấp, các loại mứt, hạt. Trong khi đó, sản lƣợng tiêu thụ bánh kẹo khá chậm vào thời điểm sau tết nguyên đán và mùa hè do khí hậu nắng nóng.

- Dây chuyền công nghệ sản xuất bánh kẹo của các doanh nghiệp khá hiện đại và đồ uống đều, đều đƣợc nhập khẩu từ các quốc gia nổi tiếng về sản xuất bánh kẹo nhƣ công nghệ cho bánh phủ socola (Hàn Quốc), công nghệ bánh quy (Đan Mạch, Anh, Nhật).

- Việt Nam là một thị trường tiêu thụ bánh kẹo tiềm năng với tốc độ tăng trưởng cao (10 – 12%) so với mức trung bình trong khu vực (3%) và trung bình của thế giới (1 – 1.5%). Nguyên nhân là do, mức tiêu thụ bánh kẹo bình quân của Việt Nam hiện nay vẫn khá thấp (1.8 kg/người/năm) so với trung bình của thế giới là 2.8% kg/người/năm. (Đỗ Thị Mơ, 2011)[4]

2.2.2.2. Môi trường kinh doanh ngành bánh kẹo Việt Nam

Hịên nay, với 86 triệu dân, Việt Nam trở thành một thị trường tiêu thụ bánh kẹo khá tiềm năng không chỉ đối với doanh nghiệp trong nước mà cả các công ty nước ngoài. Theo ước tính, hiện nay có khoảng 30 doanh nghiệp trong nước, hàng trăm cơ sở sản xuất nhỏ và một số công ty nhập khẩu bánh

kẹo nước ngoài đang tham gia thị trường, các doanh nghiệp trong nước với một loạt các tên tuổi lớn nhƣ Kinh Đô (bao gồm cả Kinh Đô miền Nam và Kinh Đô miền Bắc), Bibica, Hải Hà, Hữu Nghị, Orion Việt Nam ƣớc tính chiếm tới 75 – 80% bánh kẹo ngoại nhập chỉ chiếm 20 – 25%. Các doanh nghiệp trong nước ngày càng khẳng định được vị thế quan trọng của mình trên thị trường với sự đa dạng của sản phẩm (cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau), chất lượng khá tốt, phù hợp với khẩu vị của người Việt Nam.

Trong khi đó, các cở sở sản xuất nhỏ lẻ đang dần dần bị thu hẹp quy mô sản xuất do vốn ít, công nghệ lạc hậu, thiếu sự đảm bảo về chất lƣợng an toàn thực phẩm.

Cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước với hàng nhập khẩu.

Cách đây 10 năm, phần lớn bánh kẹo lưu thông trên thị trường nước ta đều là hàng Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia nhập về. Tuy nhiên 7 – 8 năm trở lại đây, các thương hiệu bánh kẹo trong nước đã bắt đầu phát triển và khẳng định được tên tuổi tại thị trường nội địa lẫn xuất khẩu nhờ chất lượng tốt, giá thành ổn định hơn so với hàng nhập. Ƣu thế của các doanh nghiệp trong nước có được là do:

- Đa phần các sản phẩm trong nước đều có giá thấp hơn các sản phẩm bánh kẹo nhập khẩu (chính ngạch) từ 10% - 20%.

- Xét về góc độ chất lượng, sản phẩm trong nước hiện nay không hề thua kém so với sản phẩm nhập khẩu, thậm chí còn ngon hơn, nhờ trang bị dây chuyền thiết bị hiện đại nhập từ Nhật và Châu Âu, sử dụng nguyên liệu bơ, sữa nhập khẩu từ New Zealand, Đan Mạch, Hà Lan... Đồng thời các doanh nghiệp áp dụng hầu hết các tiêu chuẩn quốc tế nhƣ HACCP, ISO 9001 – 2010 vào quá trình sản xuất nên đã đáp ứng được thị trường xuất khẩu.

- Tỷ giá đang dần đóng vai trò khá quan trọng trong việc đẩy mạch xuất khẩu và giảm nhập khẩu lĩnh vực bánh kẹo. Với việc thực hiện phá giá nội tệ

trong suốt thời gian vừa qua gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khẩu và tạo cơ hội lớn cho các doanh nghiệp trong nước chiếm lĩnh thị trường nội địa, khẳng định thương hiệu của mình.

- Tận dụng những ƣu thế trên cùng với sự thay đổi tích cực các cơ chế quản lý của nhà nước ngành bánh kẹo đã có những bước tiến mạnh mẽ, chủ động đầu tƣ mở rộng, xây dựng và phát triển sản xuất. Hiện nay các sản phẩm bánh kẹo sản xuất trong nước đang lớm dần, hiện đang giữ mức 70%. Trong số này, bên cạnh các tên tuổi lâu năm nhƣ Kinh Đô, Bibica, Hải Hà, Vinabico.. thì các doanh nghiệp nước ngoài như Orion Food, Perfetti, Van Melle... cũng khẳng định đƣợc vị thế của mình. Hiện tại, 4 doanh nghiệp ngành bánh kẹo đã niêm yết là công ty cổ phần (CTCP) Kinh Đô, CTCP chế biến thực phẩm Kinh Đô miền Bắc, CTCP Bibica, CTCP Bánh kẹo Hải Hà đều là những doanh nghiệp có quy mô lớn nhất trong ngành, khẳng định đƣợc thương hiệu của mình tại Việt Nam và các doanh nghiệp này đều đang nỗ lực nghiên cứu, phát triển để nâng cao chất lƣợng sản phẩm, đồng thời tăng cường hợp tác liên kết để nâng cao khả năng cạnh tranh. (Đỗ Thị Mơ, 2011)[4]

PHẦN 3

Một phần của tài liệu Nghiên cứu quy trình sản xuất bánh gạo từ gạo lứt (Trang 25 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(71 trang)