2. NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG KHÁNG SINH
2.1. Bộ công cụ và các chỉ số trong đánh giá sử dụng kháng sinh
Trước thực trạng sử dụng thuốc không hợp lý trên toàn cầu, WHO khẳng định rằng cần thiết phải có những dữ liệu đáng tin cậy về sử dụng thuốc để có thể đánh giá được chất lượng, chi phí, hiệu quả của việc chăm sóc sức khoẻ và từ đó xác định các khu vực cần phải có những biện pháp can thiệp để nâng cao năng lực của hệ thống chăm sóc sức khoẻ. Hội nghị năm 1985 của Tổ chức y tế thế
14
giới về việc sử dụng thuốc hợp lý đã đánh dấu những nỗ lực đầu tiên về việc sử dụng thuốc, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Để có thể có được những dữ liệu về phân tích việc sử dụng thuốc, cần thiết phải có bộ công cụ với các chỉ số đánh giá phù hợp và thống nhất trên toàn cầu. Năm 1993, chương trình hành động của WHO về thuốc thiết yếu (WHO/DAP – WHO Action Progamme on Essential Drugs) đã ban hành hướng dẫn “Cách đánh giá sử dụng thuốc tại các cơ sở y tế” (How to Investigate Drug Use in Health Facilities) nhằm nâng cao hiểu biết về các yếu tố cản trở việc sử dụng thuốc hợp lý. Hướng dẫn này bao gồm 12 chỉ số để đánh giá sử dụng thuốc ở khu vực điều trị ngoại trú và cũng là phương tiện để tiêu chuẩn hoá các nghiên cứu sử dụng thuốc.
Hội nghị quốc tế về cải thiện sử dụng thuốc đã họp ba lần vào các năm 1997 (Thái Lan), 2004 (Thái Lan) và 2011 (Thổ Nhĩ Kỳ) đã thống nhất rằng cần phải có bộ chỉ số về nghiên cứu sử dụng kháng sinh trong bệnh viện. Chương trình quản lý sử dụng thuốc hợp lý (Rational Pharmaceutical Management Plus – RPM Plus) của Tổ chức Khoa học Quản lý Sức Khỏe (Management Sciences for Health – MSH) đã xây dựng và phát triển bộ chỉ số đánh giá sử dụng kháng sinh trong bệnh viện“Cách đánh giá sử dụng kháng sinh tại bệnh viện: Các chỉ số được chọn lựa” (How to Investigate Antimicrobial Use in Hospitals: Selected Indicators), sau đó được chỉnh sửa bởi Chương trình nâng cao năng lực hệ thống Dược (Strengthening Pharmaceutical Systems Program – SPS Program). Bộ chỉ số này được xây dựng trên cơ sở của bộ chỉ số xây dựng trên bệnh nhân ngoại trú sử dụng kháng sinh được đưa ra năm 1993 và được điều chỉnh cho phù hợp với bệnh nhân thuộc khu vực nội trú [23].
Bộ chỉ số gồm 17 chỉ số, trong đó chỉ số thứ 17 là chỉ số phụ liên quan đến thử độ nhạy cảm của thuốc với vi khuẩn gây bệnh. Trong số 16 chỉ số chính liên quan đến sử dụng kháng sinh trong bệnh viện thì có 5 chỉ số liên quan đến bệnh viện, 9 chỉ số liên quan đến việc kê đơn và 2 chỉ số liên quan đến việc chăm sóc bệnh nhân. Mối chỉ số đều có mô tả chi tiết về vai trò, định nghĩa, cách thu thập số liệu, cách tính toán, công cụ và ví dụ minh hoạ. Các chỉ số cụ thể được trình bày dưới đây [23]:
15 Các chỉ số về bệnh viện:
Chỉ số 1. Sự tồn tại của các hướng dẫn điều trị chuẩn (Standard treatment guideline – STG) cho các bệnh lý nhiễm trùng.
Chỉ số 2. Sự tồn tại của danh mục thuốc bệnh viện được thông qua hoặc danh mục thuốc thiết yếu trong bệnh viện.
Chỉ số 3. Sự sẵn có một số kháng sinh quan trọng trong khoa Dược tại ngày nghiên cứu.
Chỉ số 4. Số ngày trung bình trong khoa Dược hết một số loại kháng sinh quan trọng.
Chỉ số 5. Phần trăm chi phí kháng sinh trên tổng chi phí tiền thuốc của bệnh viện.
Các chỉ số về kê đơn
Chỉ số 6. Phần trăm bệnh nhân nhập viện được kê đơn ít nhất một loại kháng sinh.
Chỉ số 7. Số kháng sinh trung bình được kê trên mỗi lần nhập viện có sử dụng kháng sinh.
Chỉ số 8. Phần trăm kháng sinh được kê nằm trong danh mục thuốc bệnh viện Chỉ số 9. Chi phí trung bình của kháng sinh được kê trên mỗi lần nhập viện có sử dụng kháng sinh.
Chỉ số 10. Thời gian trung bình mỗi đợt điều trị kháng sinh
Chỉ số 11. Phần trăm bệnh nhân được kê đơn kháng sinh dự phòng phẫu thuật trong mổ đẻ có tuân thủ hướng dẫn của bệnh viện.
Chỉ số 12. Số liều trung bình kháng sinh dự phòng phẫu thuật được kê đơn trên bệnh nhân nội trú có dự phòng phẫu thuật.
Chỉ số 13. Phần trăm bệnh nhân viêm phổi được kê đơn kháng sinh tuân thủ theo hướng dẫn điều trị chuẩn của bệnh viện.
Chỉ số 14. Phần trăm kháng sinh được kê đơn dưới dạng tên generic.
Các chỉ số về chăm sóc bệnh nhân
Chỉ số 15. Phần trăm liều kháng sinh kê đơn được dùng trên thực tế
Chỉ số 16. Thời gian nằm viện trung bình của bệnh nhân có sử dụng kháng sinh.
Chỉ số 17 (chỉ số phụ). Số xét nghiệm vi sinh đánh giá độ nhạy cảm kháng sinh được báo cáo trên các ca nhập viện được điều trị bằng kháng sinh thành công.