1. LƯỢC SỬ GIẢI PHẪU BỆNH
1.2. GIAI ĐOẠN 2: GIẢI PHẪU BỆNH ĐẠI THỂ (Tử thiết)
1.3. GIAI ĐOẠN 3: (Kính hiển vi và tế bào hay giải phẫu bệnh vi thể)
1.4. GIẢI PHẪU BỆNH HỌC PHÂN TỬ
Thời cận đại, bắt đầu từ giữa thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX.
Sự phát triển của kính hiển vi quang học.
Những kính hiển vi ban đầu được phát minh vào năm 1590 ở Middelburg, Hà Lan. Ba người thợ tạo kính là Hans Lippershey (người đã phát triển các kính viễn vọng trước đó), Zacharias Janssen, cùng với cha của họ là Hans Janssen là những người đầu tiên xây dựng nên những kính hiển vi sơ khai. Năm 1625, Giovanni Faber là người xây dựng một kính hiển vi hoàn chỉnh và đặt tên là Galileo Galilei.
Các cấu trúc của kính hiển vi quang học tiếp tục được phát triển tiếp theo sau đó, và kính hiển vi chỉ được sử dụng một cách phổ biến hơn ở Italia, Anh quốc, Hà Lan vào những năm 1660 - 1670. Marcelo Malpighi ở Italia bắt đầu sử dụng kính hiển vi để nghiên cứu cấu trúc mô học ở phổi.
Đóng góp lớn nhất thuộc về nhà phát minh người Hà Lan Antoni van Leeuwenhoek, người đã phát triển kính hiển vi để tìm ra tế bào hồng cầu và tinh trùng và đã công bố các phát hiện này.
Sự phát triển của kính hiển vi quang học.
ANTONI VAN LEEUWENHOEK (1632 - 1723),
Giải phẩu bệnh vi thể
Rudolf Virchow (1821-1902), một nhà nghiên cứu giải phẫu bệnh người Đức, nhận ra rằng các tế bào là đơn vị nhỏ nhất của cơ thể và bệnh tật là do những tổn thương, rối loạn của tế bào và mở đường cho sự phát triển môn giải phẫu bệnh vi thể.
Dưới kính hiển vi quang học cho phép ông xem những thay đổi trong các mô bệnh ở mức độ tế bào
Rudolf Virchow (1821-1902)
Được coi là cha đẻ của giải phẫu bệnh vi thể.
Mặc dù KHV được pm 150 trước.
Ông là người đầu tiên nhấn mạnh bệnh ở mức độ tế bào.
'think microscopically'
Học trò của ông Julius Cohnheim (1839-1884) kết hợp kỷ thuật mô học với thực nghiệm để nghiên cứu viêm.
Được coi là nhà GPB thực nghiệm đầu tiên.
Ông còn đi tiên phong trong kỹ thuật cắt lạnh.
Rudolf Virchow (1821-1902)
Sau hàng loạt các thành tựu y học
Môn bệnh học đã phát triển và nghiên cứu sâu hơn:
tổn thương có thể ở những mức độ khác nhau:
(a) Ở các hệ (như hệ limphô, hệ tạo huyết...) ở các tạng (như dạ dày, gan, phổi v.v...). các hệ, các tạng như vậy gọi là các tổn thương đại thể.
(b) Ở các mô và tế bào, như ở mô thần kinh , mô da, ở những tế bào cấu tạo nên các khối u v.v... gọi là các tổn thương vi thể.
(c) thành phần cấu trúc của tế bào, như ở hệ Golgi, bào vật, thể tiêu, lưới nội bào v.v... gọi là những tổn thương siêu vi và thuộc phạm vi nghiên cứu của hiển vi học điện tử.
Giải phẫu bệnh thực nghiệm hiện đại
Microscopy điện tử,
immunohistochemistry,
and molecular biology
1. LƯỢC SỬ GIẢI PHẪU BỆNH
1.1. Giai đoạn đầu (cổ đại)
1.2. GIAI ĐOẠN 2: GIẢI PHẪU BỆNH ĐẠI THỂ (Tử thiết)
1.3. GIAI ĐOẠN 3: (Kính hiển vi và tế bào hay giải phẫu bệnh vi thể)
1.4. GIẢI PHẪU BỆNH HỌC PHÂN TỬ Từ đầu thế kỷ XX đến nay.
Sự tiến bộ lớn của khoa học kỹ thuật (như sự ra đời của kính hiển vi điện tử, các phương pháp miễn dịch, hóa học tế bào.
Giải phẫu bệnh học phân tử, sự tiến bộ trong việc ứng dụng hóa sinh cơ bản vào nghiên cứu các rối loạn di truyền và ung thư.
Kỹ thuật với các nguyên tắc tương đối đơn giản (nhưng không dễ dàng thực trong thực tiển), có thể bộc lộ sự thay đổi của một nucleotide đơn lẽ trong gen, trong AND, và kết quả là sự tổng hợp của sản phẩm gen khiếm khuyết mà biểu hiện là tạo ra các sản phẫm protein bất thường, cuối cùng là biểu hiện các tổn thương trong một số bệnh lý cụ thể.
Tóm lại: lịch sử giải phẫu bệnh
Đi song hành với sự phát triển của y học, lịch sử bệnh học chia 03 giai đoạn: