Phân loại tài liệu Tạp chí Địa chất theo chuyên ngành

Một phần của tài liệu Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khai thác tạp chí địa chất (Trang 53 - 63)

Chương 2- ĐỊNH HƯỚNG VỀ QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC TÀI LIỆU TẠP CHÍ ĐỊA CHẤT

2.4. Phân loại tài liệu Tạp chí Địa chất theo chuyên ngành

Trong 46 năm hoạt động, Tạp chí Địa chất đã xuất bản được 325 số với gần 4.000 bài báo thuộc các chuyên ngành khác nhau. Dựa vào tài liệu thu thập được và phân loại theo 25 chuyên ngành như mục 2.2.1 nêu trên, kết quả thu được như bản Phụ lục kèm theo Luận văn. Qua bản Phụ lục, chúng ta biết được mức độ công bố các công trình nghiên cứu địa chất thuộc mỗi chuyên ngành trên Tạp chí Địa chất, và học viên có một số nhận xét sơ qua các chuyên ngành đó như sau:

1. C sinh - địa tng (Ph lc 1)

Tạp chí Địa chất đã đăng tải được 297 bài báo với nhiều nội dung nghiên cứu khác nhau về cổ sinh - địa tầng. Có loạt bài tổng hợp về Địa tầng miền Bắc Việt Nam (1965), song các bài chủ yếu công bố các tài liệu mới do các tác giả thu thập được qua các nghiên cứu của mình về địa tầng và cổ sinh từ Tiền Cambri đến Đệ tứ. Nhìn chung, các khoảng địa tầng đã được đề cập đến đầy đủ, góp phần chính xác hoá sự phân chia địa tầng ở nước ta, đóng góp

46

vào công tác đo vẽ bản đồ địa chất các loại tỷ lệ ở nước ta hiện nay, cũng như công tác tìm kiếm và thăm dò khoáng sản. Về mặt cổ sinh, đáng chú ý có việc phát hiện nhiều điểm hoá thạch mới, góp phần định tuổi trầm tích chính xác hơn. Cũng cần phải nhấn mạnh việc nghiên cứu nhiều nhóm hóa thạch mới, rất có ý nghĩa địa tầng của các nhà cổ sinh nước ta, như nhóm hoá thạch Cá (Đevon), Răng nón (Trias) v.v... Đồng thời có sự phát triển việc định tuổi theo phương pháp đồng vị đối với các địa tầng có đá biến chất, đá phun trào cũng góp phần to lớn vào việc giải quyết sự phân chia địa tầng ở nước ta.

2. Thch hc (Ph lc 2)

Tạp chí Địa chất đã đăng tải được 214 bài viết về những nghiên cứu về thạch học (trầm tích, magma, biến chất), số bài về đá magma nhiều hơn cả, thể hiện đã có nhiều phát hiện mới, tài liệu mới về loại đá này. Các bài báo đã đề cập tới các thành tạo magma mới phát hiện, đến thành phần vật chất của các phức hệ magma khác nhau, đến tuổi của các thành tạo magma dựa vào các phương pháp đồng vị và vết phân hạch và khoáng sản liên quan đến hoạt động magma. Đáng chú ý là gần đây xuất hiện một số bài nói về bối cảnh kiến tạo của một số thành tạo magma, giúp ta hiểu các vấn đề về lịch sử phát triển của một số khu vực ở nước ta theo quan điểm kiến tạo mảng.

Về các đá trầm tích, các bài báo chủ yếu đề cập đến đặc điểm thạch học của các hệ tầng, chủ yếu thuộc Mesozoi và Kainozoi.

Về các đá biến chất, Tạp chí Địa chất đã đăng tải các kết quả nghiên cứu về các loại biến chất như: biến chất trao đổi, biến chất tiếp xúc, biến chất nhiệt động, biến chất khu vực. Gần đây, có bài công bố các tài liệu về xác định tuổi đá biến chất Tiền Cambri dựa vào phương pháp SHRIMP U-Pb đối với zircon, một phương pháp hiện đại cho tuổi rất chính xác, góp phần chính xác hoá tuổi các thành tạo biến chất ở nước ta.

47

3. Khoáng vt (Ph lc 3)

Với số lượng 33 bài, chuyên ngành khoáng vật tương đối ít được đăng tải trên Tạp chí Địa chất. Nhưng các bài báo phần lớn đã nêu lên đặc điểm khoáng vật của các thành tạo địa chất khác nhau, một số bài nói về các khoáng vật mới phát hiện ở Việt Nam (như carbocerait, poliera, nhóm sulfo- muối v.v...). Đáng chú ý là gần đây có những bài đi sâu vào nhóm khoáng vật platin, một loại kim loại quý hiếm trong các đá mafic - siêu mafic ở nước ta.

Ngoài ra, một số bài đi sâu vào khoáng vật trong trọng sa ở một số vùng giúp ta hiểu rõ loại tài nguyên này.

4. Kiến to (Ph lc 4)

Với 124 bài báo về chuyên ngành Kiến tạo mà Tạp chí Địa chất công bố, ta nhận thấy, ở nước ta từ khi Nội san Địa chất ra đời, các vấn đề về kiến tạo đều được các tác giả viết trên cơ sở học thuyết Địa máng và chủ yếu do các tác giả thuộc nhóm chuyên gia Liên Xô cũ đến giúp Tổng cục Địa chất lập bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam viết. Bài báo đầu tiên giới thiệu học thuyết Kiến tạo mảng xuất hiện đầu năm 1974 do một nhà địa chất Việt Nam viết (TS Ngô Thường San), nhưng phải đến những năm sau 1980, các bài báo về kiến tạo mới thực sự được viết theo quan điểm Kiến tạo mảng, vận dụng học thuyết này để giải thích các vấn đề của địa chất và sinh khoáng ở Việt Nam.

Qua các bài báo trong Tạp chí Địa chất, ta cũng nhận thấy là phải 10 năm sau khi Tạp chí ra đời mới xuất hiện dần đội ngũ các nhà Kiến tạo Việt Nam viết về các vấn đề kiến tạo cụ thể của các vùng trên lãnh thổ nước ta.

5. Địa cht cu trúc (Ph lc 5)

Các bài báo viết về chuyên ngành này (28 bài), chủ yếu mô tả các cấu trúc địa chất hình thành ở các miền khác nhau trên lãnh thổ nước ta, một số

48

bài mở rộng ra toàn bán đảo Đông Dương hoặc vùng Biển Đông Việt Nam, có một số ít bài đề cập đến vấn đề cấu trúc địa chất liên quan đến tạo quặng ở nước ta.

6. Địa cht khu vc - đo v lp bn đồ địa cht (Ph lc 6)

Công tác đo vẽ bản đồ địa chất là một dạng điều tra cơ bản về địa chất học của các miền trên lãnh thổ nước ta nên đã được Nhà nước quan tâm, đầu tư thực hiện và triển khai rất sớm ở nước ta với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô. Các kết quả đo vẽ ở các vùng cùng với các phát hiện mới đã được giới thiệu trên Tạp chí Địa chất (38 bài). Từ khoảng những năm 90 của thế kỷ trước, xuất hiện các bài báo cho thấy công tác đo vẽ địa chất đã được mở rộng ra các vùng biển nông ven bờ, góp phần đánh giá các tài nguyên khoáng sản ở vùng biển nông và vùng ven biển.

7. Địa mo (Ph lc 7)

Địa mạo cũng là một đối tượng điều tra trong đo vẽ địa chất, nên đã được phát triển sớm ở nước ta. Các bài báo gửi đăng ở Tạp chí Địa chất đều là sự công bố các kết quả điều tra địa mạo ở các vùng đã tiến hành lập bản đồ địa chất ở nước ta (45 bài). Nếu như trong những năm trước giải phóng miền Nam các bài báo chỉ nói về địa mạo các vùng ở miền Bắc, thì từ năm 1978 xuất hiện các bài về địa mạo ở miền Nam, quần đảo Trường Sa, và từ 1987 có bài nói về các thềm biển, cho thấy việc điều tra địa chất mở rộng ra các vùng biển thuộc biển Đông. Thời gian gần đây, ngoài những bài chuyên về những nét địa mạo đặc trưng của các vùng, còn có một số bài đề cập đến dấu hiệu địa mạo để tìm kiếm khoáng sản và các vấn đề địa mạo đáy biển liên quan đến tài nguyên dầu khí.

8. Địa cht bin (Ph lc 8)

Chuyên ngành Địa chất biển mới được phát triển trong thời gian gần đây cho nên số lượng bài thuộc chuyên ngành này trong Tạp chí Địa chất còn

49

ít (8 bài). Các bài đã công bố đề cập đến đặc điểm địa chất vùng biển ven bờ ở một số dải ven biển nước ta, đồng thời cũng có bài nói về tài nguyên sa khoáng ven biển có thể khai thác ở nước ta.

9. Địa cht thu văn (Ph lc 9)

Chuyên ngành này liên quan đến một đối tượng rất quan trọng trong đời sống người dân là nước sinh hoạt, đồng thời để phát triển nền kinh tế ở các vùng, cho nên số lượng bài đề cập đến địa chất thuỷ văn tương đối phong phú (93 bài). Các bài đề cập nhiều đến nước dưới đất, về trữ lượng, chất lượng và quản lý việc khai thác, sử dụng nước, nhất là ở các khu đô thị, sao cho tài nguyên nước được phát triển bền vững.

10. Địa cht công trình - trc địa (Ph lc 10)

Chuyên ngành này liên quan đến công tác xây dựng, số bài đăng trên Tạp chí Địa chất không nhiều (23 bài), các bài chủ yếu đề cập đến độ bền của nền móng, các tác động gây lún và biến dạng công trình.

11. Địa cht môi trường (Ph lc 11)

Chuyên ngành này liên quan đến một vấn đề nhạy cảm khi nền kinh tế phát triển với tốc độ cao: đó là vấn đề ô nhiễm môi trường, cho nên tuy không thuộc một chuyên ngành cơ bản của địa chất học, nhưng số bài tương đối nhiều (43 bài). Đa số các bài có nội dung đề cập đến tình trạng ô nhiễm nước ở cả các vùng đô thị và nông thôn, nhất là ở các khu công nghiệp và khai thác khoáng sản. Một số ít bài đã đề cập đến ô nhiễm do phóng xạ ở các vùng tụ khoáng quặng phóng xạ và khai thác sa khoáng.

12. Địa cht tai biến (Ph lc 12)

Chuyên ngành này cũng được các nhà địa chất quan tâm vì nhiều tai biến thiên nhiên có nguyên nhân từ các hoạt động địa chất như đứt gãy đang hoạt động, xói lở bờ và sườn núi, nứt đất, trượt đất. Theo dõi các bài báo đăng trên Tạp chí

50

Địa chất (45 bài), ta thấy các vấn đề này mới được các nhà địa chất quan tâm từ những năm 1980, đặc biệt số bài tăng hẳn lên từ những năm 2000, khi có những trận động đất xảy ra ở những vùng lân cận nước ta như động đất Thin Tóc (19/02/2001), động đất gây sóng thần Nicobar (26/12/2004).

13. Địa vt lý (Ph lc 13)

Địa vật lý là một chuyên ngành sử dụng những phương tiện hiện đại để giải quyết nhiều nhiệm vụ địa chất, từ điều tra cơ bản đến tìm kiếm thăm dò khoáng sản. Chuyên ngành này được nhiều nhà khoa học địa chất quan tâm, vì vậy, những bài báo (131 bài) viết về chuyên ngành này xuất hiện rất sớm từ khi Tạp chí mới ra đời ở dạng Nội san của ngành Địa chất (1961), và sau đó tham gia đều đặn vào sự phát triển Tạp chí. Các bài báo phần lớn trình bày các kết quả của các phương pháp địa vật lý trong đo lỗ khoan, đo sâu, xác định phương của các cấu trúc địa chất, khảo sát trọng lực, sử dụng phương pháp cổ từ, đo vẽ địa vật lý hàng không v.v.. Gần đây, thể hiện tính hiện đại hoá các phương pháp nghiên cứu địa chất, xuất hiện những bài giới thiệu các phương pháp địa vật lý mới như: sử dụng hệ thống định vị toàn cầu GPS, sử dụng phương pháp rađar xuyên đất v.v..

14. Địa hoá (Ph lc 14)

Chuyên ngành Địa hoá cũng được các nhà Địa chất Việt Nam quan tâm từ rất sớm. Nếu trong những năm 1960, các bài báo chủ yếu có nội dung giới thiệu phương pháp địa hoá trong công tác địa chất thì từ những năm 1970 trở đi, các bài báo đã giới thiệu kết quả việc áp dụng phương pháp này ở nước ta.

Ngoài những bài nói về nghiên cứu cơ bản như “Phân vùng địa hoá Việt Nam, Các yếu tố phong hoá ở miền Bắc Việt Nam, v.v..”, nhiều bài đề cập đến việc sử dụng địa hoá trong tìm kiếm kháng sản, như nhận định các đặc điểm địa hoá của các thể đá chứa quặng, đặc điểm địa hoá - khoáng vật của quặng. Tuy nhiên, loạt bài này còn ít (66 bài) so với loạt bài nghiên cứu cơ bản.

51

15. Sinh khoáng (Ph lc 15)

Chuyên ngành Sinh khoáng được các nhà địa chất nước ta quan tâm từ rất sớm, thể hiện ở sự xuất hiện các bài về chuyên ngành này ngay từ những số đầu tiên của Nội san Địa chất. Vấn đề sinh khoáng thu hút sự chú ý của nhiều nhà địa chất hoạt động trong các Viện nghiên cứu, trong công tác điều tra, lập bản đồ khoáng sản tỷ lệ 1/500.000-1/200.000. Ngoài những bài đề cập đến những đặc điểm sinh khoáng của các khu vực lớn ở nước ta, như miền Bắc Việt Nam, Tây Bắc Bộ, Trung Bộ v.v.. còn có những bài đề cập đến sinh khoáng các vùng quặng cụ thể, như đồng Sinh Quyền, sắt Thái Nguyên, thiếc Tam Đảo, đá quý trong bazan Nam Trung Bộ, antimon ở Nà Hang (Tuyên Quang) v.v.. Các bài này (71 bài) đã nêu nhiều vấn đề làm cơ sở khoa học cho việc tìm kiếm và thăm dò các loại khoáng sản được đề cập đến.

16. Địa cht m (Ph lc 1)

Các bài viết về chuyên ngành này thường đề cập đến các yếu tố địa chất của các điểm quặng, tụ khoáng và mỏ. Đây là một khía cạnh ứng dụng của môn địa chất, nên được nhiều người quan tâm, thể hiện ở số bài khá lớn đã được đăng tải trên Tạp chí Địa chất (175 bài). Các bài báo đã đề cập đến đặc điểm địa chất của các khoáng sản quen thuộc ở nước ta, như: than, quặng sắt, quặng đồng, bauxit, cassiterit, apatit, v.v.. Bắt đầu từ những năm 1980 xuất hiện các bài về địa chất dầu khí, địa chất đá quý và nửa quý, địa chất các tụ khoáng quặng xạ - hiếm. Điều đó cho thấy ngành Địa chất của nước ta ngày càng phát triển và mở rộng.

17. Tài nguyên khoáng sn (Ph lc 17)

Đây là một trong những mục tiêu cuối cùng của nghiên cứu địa chất, nên các bài báo về chuyên ngành này cũng khá phong phú (191 bài). Chúng đề cập đến hầu hết các loại khoáng sản có ở nước ta, mô tả các dạng tồn tại của chúng, dự đoán và tính toán trữ lượng, chất lượng quặng. Sự quan tâm

52

của các nhà địa chất Việt Nam rất đa dạng, thể hiện ở hầu hết các loại khoáng sản được đề cập đến, từ những loại phổ biến như than, sắt, đồng, đá vôi v.v.., đến những loại thường ít được nói đến, như thuỷ ngân, ngọc bích, nước khoáng, puzolan, đá ốp lát, pyrophyllit, bentonit. Từ những năm 1980, xuất hiện các bài nói về dầu khí, đá quý và nửa quý. Nhìn chung, các bài trong Tạp chí Địa chất đã đề cập đến tất cả các dạng tài nguyên khoáng sản có ở nước ta và ý nghĩa kinh tế của chúng, cách khai thác và sử dụng chúng sao cho sự phát triển được bền vững. Gần đây, Tạp chí cũng giới thiệu Quy định về phân cấp trữ lượng và tài nguyên khoáng sản sử dụng ở Việt Nam.

18. Địa cht tìm kiếm - thăm dò (Ph lc 18)

Công tác tìm kiếm - thăm dò là khía cạnh ứng dụng của khoa học Địa chất, đồng thời cũng là một trong những giai đoạn cuối cùng của điều tra địa chất. Với ý nghĩa như vậy nhưng số bài về tìm kiếm thăm dò trên Tạp chí còn khá khiêm tốn (34 bài), có thể do các bài thuộc lĩnh vực này đã được san sẻ sang các chuyên ngành liên quan khác, như: địa vật lý (tìm kiếm thăm dò bằng phương pháp địa vật lý), địa hóa (tìm kiếm bằng phương pháp địa hoá), khoan (thăm dò bằng khoan), v.v...

Các bài trong chuyên ngành này, một phần trình bày các dấu hiệu tìm kiếm các loại khoáng sản khác nhau và phương hướng tìm kiếm chúng, một phần giới thiệu các kết quả tìm kiếm đối với một số khoáng sản. Đặc biệt, từ năm 1990 đến nay, các bài thuộc chuyên ngành này giảm hẳn, có thể do công tác tìm kiếm thăm dò đã chuyển sang các doanh nghiệp thực hiện và các nhà địa chất thuộc các tổ chức này ít công bố kết quả nghiên cứu trên Tạp chí Địa chất.

19. Địa cht kinh tế (Ph lc 19)

Chuyên ngành này có số bài rất hạn chế (8 bài), do ở Tổng cục Địa chất trước đây có một tạp chí riêng về chuyên ngàmh này là “Tạp chí kinh tế địa

53

chất và nguyên liệu khoáng”. Tuy nhiên ta cũng nhận thấy là sau khi Tạp chí này được sáp nhập vào Tạp chí Địa chất, số bài về Địa chất kinh tế trong Tạp chí Địa chất không tăng và có phần giảm sút.

20. Địa cht đô th (Ph lc 20)

Việc điều tra về địa chất đô thị thời gian qua vẫn được Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, các kết quả điều tra chỉ nằm trong các báo cáo nộp vào lưu trữ, mà không được các tác giả của chúng giới thiệu lên Tạp chí. Do vậy số bài trong chuyên ngành này cũng rất ít và thuộc một - hai tác giả quen thuộc phụ trách công tác này ở một viện nghiên cứu. Các bài đề cập chủ yếu đến ảnh hưởng của đô thị hoá tới sự bền vững của môi trường.

21. Khai khoáng (Ph lc 21)

Trên Tạp chí số lượng bài thuộc chuyên ngành này cũng ít (20 bài).

Đáng chú ý là trong giai đoạn đầu của Tạp chí, khoảng những năm 1961- 1964, số bài xuất hiện trên Tạp chí tương đối đều đặn hơn, có thể do thời gian đó việc nghiên cứu cơ bản về địa chất chưa phát triển, và các nhà địa chất ở các đơn vị của Tổng cục Địa chất phải phụ trách nhiều công việc liên quan trực tiếp đến khai khoáng, thể hiện ở các bài đề cập đến các công việc như bắn mìn, khoan và bơm thí nghiệm, kỹ thuật hầm lò, tiết kiệm gỗ trong các công trình, v…v…. Từ năm 1990 trở lại đây các bài thuộc chuyên ngành này giảm hẳn, có thể do ngành Mỏ đã có tạp chí riêng.

22. Chế biến khoáng sn (Ph lc 22)

Chuyên ngành này về bản chất không thuộc ngành địa chất mà thuộc ngành Công nghiệp, nên các bài báo về chuyên ngành này xuất hiện trong Tạp chí quá ít, trong một khoảng thời gian hạn chế (3 bài).

Một phần của tài liệu Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khai thác tạp chí địa chất (Trang 53 - 63)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(131 trang)