Những thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội của thị xã Bà Rịa (1996-2000)

Một phần của tài liệu Thành phố Bà Rịa - Lịch sử Đảng bộ (1994 - 2014): Phần 1 (Trang 29 - 34)

ĐẢNG BỘ THỊ XÃ BÀ RỊA TRONG QUÁ TRÌNH

II. ĐẢNG BỘ THỊ XÃ BÀ RỊA TẬP TRUNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU CÔNG

4. Những thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội của thị xã Bà Rịa (1996-2000)

Nối tiếp những thành tựu 2 năm ổn định bộ máy và bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội (1994-1996), qua 05 năm phấn đấu, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ I (nhiệm kỳ 1996-2000), Đảng bộ thị xã đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và xây dựng hệ thống chính trị.

Về phát triển kinh tế xã hội, Đảng bộ xác định đã đạt được những kết quả ở nhiều mặt, hoàn thành và vượt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Xây dựng cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ thương mại - nông nghiệp, với nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhanh, cơ bản thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu nghị quyết. Tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng bình quân hàng năm 20,58% (nếu không tính các sản phẩm do các đơn vị kinh tế của TW và Tỉnh đóng trên địa bàn thì tỷ lệ đó là 25,83%). GDP bình quân đầu người là: 557 USD so với chỉ tiêu đạt 121,88%. Cơ cấu kinh tế đến năm 2000 đạt tỉ lệ: Công nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp: 68,66%; Dịch vụ thương mại: 21,29%; Nông nghiệp:

10,05%. Cùng với sự phát triển của công nghiệp Trung ương và Tỉnh đã tạo điều kiện, tác động, thúc đẩy công nghiệp địa phương có bước tiến quan trọng, nổi bật. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn phát triển khá ổn định với giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm là 14,65%. Tiểu thủ công nghiệp tăng trưởng nhanh, giá trị sản xuất bình

quân tăng 24,01%/ năm, vượt 2% so với chỉ tiêu. Thị xã chủ trương đầu tư trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất, thu hút nhiều lao động tham gia sản xuất, kinh doanh, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho gần 1.400 lao động.

Kinh tế dịch vụ thương mại phát triển nhanh, đa dạng, là ngành kinh tế chủ lực trong cơ cấu kinh tế của thị xã. Năm 2000, trên địa bàn thị xã có 3.290 hộ kinh doanh thương nghiệp, 22 doanh nghiệp tư nhân và 2 Công ty trách nhiệm hữu hạn với số lượng lao động là 6.043 người.

Doanh thu dịch vụ thương mại tăng bình quân 13,96%/năm, riêng trong 2 năm 1997 và 1998 tăng 29,25%/năm. Trung tâm thương mại đã đi vào hoạt động hiệu quả đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của người dân.

Ngoài ra chợ bán thực phẩm tươi sống cũng được đưa vào hoạt động, các chợ phường, xã cũng được đầu tư nâng cấp và xây mới. Hoạt động dịch vụ tăng mạnh và phong phú hơn, thiết thực giúp cho việc mua bán và lưu thông hàng hóa trên địa bàn với các vùng phụ cận dễ dàng và thuận tiện. Dịch vụ Bưu chính - viễn thông được mở rộng theo hướng hiện đại hóa, phát triển bình quân hàng năm là 23,38%, đã hỗ trợ tích cực cho các ngành kinh tế phát triển. Năm 1996 có 3,39 máy/100 dân, năm 2000 có 7,3 máy/100 dân (vượt chỉ tiêu 2,3 máy/100 dân).

Mặc dù nông nghiệp của thị xã chỉ đứng thứ ba sau công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại, nhưng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của địa phương. Trong 5 năm (1996-2000) ngành nông nghiệp tăng trưởng nhanh và vượt chỉ tiêu nghị quyết với mức tăng bình quân hàng năm 8,16%, (so với Nghị quyết vượt 3,16%).

Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nông dân chuyển dần từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa. Đảng bộ chủ trương đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ nông nghiệp, hình thành ba vùng chuyên canh sản xuất. Tính đến năm 2000 diện tích canh tác vùng chuyên canh lúa có khoảng 2.322 ha, trong đó diện tích sản xuất 3 vụ ổn định là 410 ha, sản lượng lương thực hàng năm đạt từ 11.000 tấn - 11.500 tấn, năng suất lúa bình quân cả năm tăng 3,86%. Vùng chuyên canh rau, đậu của thị xã phát triển khá (năm 1996 có 283 ha, năm 2000 phát triển 489 ha), tốc độ phát triển bình quân hàng năm 14,65%, với sản lượng bình quân từ 4.000 - 4.500 tấn/năm. Thực hiện chuyển đổi mô hình quản lý hợp tác

xã theo kiểu mới, địa phương đã có hai Hợp tác xã nông nghiệp đang hoạt động ổn định, hiệu quả. Nông dân đã cải tạo được 891 ha vườn tạp đưa vào sản xuất.

Ngành chăn nuôi phát triển tương đối ổn định, công tác phòng trừ dịch bệnh được đầu tư nhiều hơn; trên địa bàn không có dịch bệnh nặng, bảo vệ tốt được đàn gia súc, gia cầm. Năm 2000, tổng đàn bò có 2.400 con, tốc độ phát triển bình quân hàng năm 9,10%, đàn heo có tốc độ tăng trưởng 2,86%, đàn gia súc gia cầm tăng 1,9%/năm.

Toàn thị xã có 598 ha đất lâm nghiệp, chiếm 6,60% tổng diện tích tự nhiên; trong đó có 563 ha rừng trồng; 260 ha rừng ngập mặn xen lẫn với diện tích nuôi trồng thủy sản. Công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng đã được chương trình 327 phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức thực hiện có triển vọng phát triển tốt.

Trong các hoạt động sản xuất khác, toàn thị xã có 177 ha ruộng muối, năng suất bình quân 90 tấn/ha. Tỉnh đã đầu tư xây dựng nhà máy muối công nghiệp trên địa bàn thị xã với công suất 50.000 đến 100.000 tấn/năm tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất muối của Nhân dân địa phương.

Công tác điều hành thu, chi ngân sách được củng cố và hoàn thiện từ cấp phường, xã đến thị xã, quản lý và khai thác nguồn thu đúng luật định. Tổng thu ngân sách trên địa bàn trong thời kỳ 1996 - 2000 là 70,488 tỷ đồng so với Nghị quyết đạt 117,48%; tốc độ thu tăng bình quân hàng năm 2,24%. Chi ngân sách tập trung vào lĩnh vực phát triển sự nghiệp kinh tế và xây dựng cơ bản theo định hướng phát triển kinh tế của thị xã.

Ngành tín dụng ngân hàng trên địa bàn có 02 đơn vị với doanh thu tiền gởi là 1.153 tỷ đồng, doanh số cho vay 643,868 tỷ đồng; trong đó cho vay phục vụ sản xuất nông nghiệp là 113,109 tỷ đồng.

Là một thị xã mới thành lập, Đảng bộ và toàn bộ hệ thống chính trị tập trung lãnh đạo và thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản, công trình giao thông, công trình phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Trước hết Đảng bộ đã lãnh đạo chính quyền xúc tiến công tác quy hoạch (quy hoạch tổng thể, chi tiết và từng ngành). Tổng vốn đầu tư và phát triển xây dựng cơ bản trong 5 năm qua do thị xã làm chủ đầu tư là 464,416 tỷ đồng, đạt 80,13% kế hoạch, gồm 278 công trình chủ yếu là công trình giao thông, công trình phục vụ cho giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội, dịch

vụ thương mại, nông nghiệp... Hầu hết các công trình được đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành và đưa vào sử dụng, đáp ứng kịp thời cho hoạt động kinh tế - xã hội. Diện mạo đô thị thay đổi từng ngày, ở các vùng nông thôn có sự phát triển theo xu hướng đô thị hóa, thực hiện một bước rõ nét về công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết TW5 (khóa VII). Xây dựng thị xã là đô thị văn minh, giàu đẹp, các mặt văn hóa đô thị như vệ sinh ăn ở của nhân dân, vệ sinh môi trường được chăm lo, cảnh quan đô thị từng bước được tạo dựng mới.

Trong 05 năm (1996-2000), các mặt văn hóa xã hội đã đạt được những kết quả nổi bật, đã thiết thực cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.

Công tác xã hội hóa trên các lĩnh vực là một trong những nét nổi bật của địa phương; thực hiện các chương trình về xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm với việc thu hút vốn, đầu tư của các tổ chức và cá nhân đạt kết quả cao. Chương trình dự án nhỏ và các trung tâm giới thiệu việc làm đã cho vay 132 dự án, tổng vốn cho vay 4,365 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 3.347 lao động. Chương trình xóa đói giảm nghèo được triển khai với nhiều hoạt động về vay vốn sản xuất, tạo điều kiện về sản xuất cho nhân dân...Từ năm 1996 đến năm 2000 đã xóa nghèo 818 hộ, ước tính đến cuối năm 2000 còn 551 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 3,18% trong tổng số hộ trên địa bàn. Tỷ lệ giảm nghèo bình quân hàng năm là 25,22% và đến năm 2000 toàn địa bàn thị xã không còn hộ đói. Với phương châm

“Nhà nước và Nhân dân cùng làm”, hoạt động nhân đạo, từ thiện, bảo hiểm xã hội được quần chúng nhân dân tích cực hưởng ứng. Các ngành, hội, đoàn thể làm tốt công tác vận động Nhân dân thực hiện “lá lành đùm lá rách”, hỗ trợ vốn phát triển kinh tế... Các chính sách đối với đồng bào dân tộc ít người, Nhân dân vùng khó khăn trong những năm qua cũng được thực hiện tốt. Tạo được lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng mối đoàn kết keo sơn gắn bó, thể hiện ý Đảng lòng dân.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 (khóa VII), công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân đạt được nhiều kết quả khả quan, đặc biệt là các chương trình y tế quốc gia được thực hiện tốt.

Mạng lưới y tế khu phố, ấp được phủ kín 100%, đội ngũ nhân viên sức khỏe cộng đồng đã được xây dựng và củng cố, bình quân 115 hộ dân có

01 nhân viên sức khỏe cộng đồng, qua đó đã kịp thời phát hiện và ngăn chặn các loại dịch bệnh.

Việc chăm lo sức khỏe, đời sống vật chất và tinh thần cho Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng được thực hiện tốt. Giải quyết kịp thời và đúng quy định các chế độ chính sách cho các đối tượng. Công tác tổ chức khảo sát và quy tập mộ liệt sĩ được quan tâm chỉ đạo. Trong 5 năm đã quy tập và làm lễ truy điệu an táng 145 hài cốt về nghĩa trang liệt sĩ tỉnh, xây dựng 86 căn nhà tình nghĩa, sửa chữa được 195 căn. Ngành Lao động - Thương binh - Xã hội thị xã quản lý 3.935 đối tượng chính sách, so với năm 1995 là 2.828 đối tượng.

Ngành giáo dục có nhiều tiến bộ, cơ sở vật chất khang trang, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao, không còn tình trạng học ca 3 trong các nhà trường. Thị xã cơ bản đã hoàn thành chương trình xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, đang phổ cập trung học cơ sở.

Hoạt động khoa học và công nghệ của Thị xã đã được chính quyền và các ngành chức năng quan tâm; tham gia thẩm định các dự án đầu tư, kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa hướng dẫn công tác bảo vệ môi trường nhằm phục vụ tốt hơn cho sản xuất và đời sống nhân dân.

Văn hóa - thông tin góp phần tích cực tuyên truyền, cổ động cho việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, xây dựng nếp sống văn hóa mới, ngăn chặn các văn hóa phẩm độc hại, tỷ lệ dân số được nghe Đài truyền thanh ngày càng cao (năm 1996 đạt 81% dân số, năm 1999 đạt 93% và năm 2000 đạt 97% dân số). Ngành văn hóa thị xã đã xây dựng được 5 tụ điểm văn hóa cơ sở, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia vào các hoạt động phong trào văn hóa văn nghệ, vui chơi giải trí. Các hoạt động thông tin tuyên truyền thường xuyên được cải tiến về nội dung và hình thức đã góp phần tích cực thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương, phổ biến, hướng dẫn nhân dân xây dựng nếp sống văn hóa, chống các hiện tượng tiêu cực trong xã hội.

Lĩnh vực thể dục thể thao đã có nhiều thành tích trong khu vực và trong các cuộc thi của tỉnh. Nhiều vận động viên tham gia cấp tỉnh, trong đó có vận động viên được tham gia các giải thi đấu cấp khu vực và quốc

gia, đạt được kết quả khả quan, nhất là môn võ Taekwondo. Đến năm 1999, có 10% dân số thị xã thường xuyên tham gia rèn luyện thể dục thể thao, tăng 1,54 lần so với năm 1995.

Trong 5 năm, Đài truyền thanh thị xã đã được tỉnh đầu tư xây dựng mới, hệ thống máy phát phát sóng FM công suất 300W được lắp đặt và đi vào sử dụng. Tính đến năm 1999, đã có 99,8% dân số thị xã Bà Rịa được xem truyền hình; 100% xã, phường đều có trạm truyền thanh cơ sở, hệ thống phát thanh được phủ khắp khu phố, ấp, đảm bảo hơn 90%

dân số được tiếp nhận thông tin.

Một phần của tài liệu Thành phố Bà Rịa - Lịch sử Đảng bộ (1994 - 2014): Phần 1 (Trang 29 - 34)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(78 trang)