CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
3.1. Bối cảnh mới và yêu cầu đặt ra đối với quản lý chi tiêu công
3.1.1. Hội nhập kinh tế quốc tế và hội nhập khu vực ngày càng mạnh mẽ Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập quốc tế, hội nhập khu vực trở thành một xu thế khách quan, chi phối các định hướng, quan điểm, phong cách quản lý và điều hành của bộ máy quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực.
Hội nhập quốc tế về kinh tế, thương mại, đầu tư, tài chính sẽ diễn ra mạnh mẽ cả chiều rộng và chiều sâu, đòi hỏi sự tuân thủ hệ thống các chuẩn mực, sự tôn trọng và tính thích ứng với các thông lệ quốc tế, phù hợp với các quy luật của kinh tế thị trường.
Trong điều kiện đó, việc có một hệ thống thông tin tài chính tin cậy, minh bạch, toàn diện, kịp thời về quản lý tài chính công sẽ không những đáp ứng được các yêu cầu hội nhập đã cam kết, yêu cầu báo cáo đối với các tổ chức quốc tế theo thông lệ mà một hệ thống thông tin như vậy còn là nền tảng cho việc xây dựng và sử dụng các công cụ điều tiết tài chính vĩ mô của Nhà nước hiệu quả hơn, phù hợp với xu thế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam gắn trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
3.1.2. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ.
Yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản phương thức tập hợp, cung cấp, tiếp nhận, phân tích và xử lý thông tin tài chính phục vụ quản lý vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính công, nâng cao hiệu quả điều tiết vĩ mô công cụ tài chính công, tăng cường chất lượng giám sát của hệ thống tài chính, đảm bảo an ninh tài chính trong quá trình phát triển và hội nhập.
Cải cách hành chính nhà nước và cải cách tài chính công đang trở thành một hoạt động sôi động không những ở trong nước ta mà còn diễn ra ở nhiều nước trên thế giới. Công cuộc cải cách hành chính và cải cách tài chính công ở nước ta sẽ vừa có những bước tiến theo chiều sâu, phù hợp với bối cảnh phát triển mới, vừa phổ biến rộng khắp ở các ngành, các cấp trong cả nước mà trước hết là ở trong ngành tài chính.
Trong bối cảnh đó, hệ thống quản lý tài chính được hiện đại hóa và trở nên hiệu quả hơn, có hiệu suất công tác cao hơn; nền tảng pháp luật, nền tảng thanh toán trong nền kinh tế, yêu cầu kế toán, kiểm toán sẽ được tăng cường, được cải thiện...
Những điểm chủ yếu về tình hình và bối cảnh nêu trên đặt ra vấn đề đổi mới và hiện đại hoá công tác quản lý tài chính công như một nhu cầu cần thiết và bức xúc.
3.2. Quan điểm, định hướng quản lý chi tiêu công
Cải cách quản lý chi tiêu công phải đặt trong bối cảnh cải cách hành chính công tổng thể và nâng cao năng lực quản lý của Chính phủ.
Với quan điểm này, Nhà nước phải làm cho vai trò quản lý của mình phù hợp với năng lực đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, cụ thể là phải xây dựng các thể chế nhằm tạo ra một khu vực công năng động, bao gồm tăng cường xây dựng các thể chế về chính sách; chính quyền có khả năng xây dựng và phối hợp chính sách trong việc lựa chọn mục tiêu chiến lược; phân bổ nguồn lực gắn kết với kế hoạch và chính sách; thực hiện, kiểm soát và đánh giá kết quả các hoạt động; công chức phải có động cơ và năng lực quản lý tốt;
ngăn chặn nạn tham nhũng ...
3.2.1. Quản lý chi tiêu công cần dựa trên hệ thống các nguyên tắc lập ngân sách và quản lý tài chính tốt.
Những nguyên tắc đó là:
Tính tổng thể và tính kỷ luật: Tính tổng thể đòi hỏi một sự tiếp cận đối
cận thích hợp để đẩy mạnh quá trình cải cách chi tiêu công theo từng giai đoạn.
Ngân sách phải bao quát tất cả những hoạt động tài chính của Chính phủ.
Trong ngân sách, những quyết định tài chính mà Chính phủ đưa ra cần phải dựa vào cơ sở giới hạn cứng của ngân sách và có sự cạnh tranh, đánh đổi giữa các nhu cầu và mục tiêu. Tính kỷ luật, đi đôi với nó là tính tiết kiệm, hàm ý rằng ngân sách chỉ nên tập trung những nguồn lực vừa đủ ở mức cần thiết để thực hiện tốt những chính sách Chính phủ.
Tính linh hoạt: Tính linh hoạt có liên quan đến vấn đề đưa những quyết định đến tất cả các nơi mà thông tin hợp lý có thể có. Thuộc về hoạt động, những người quản lý cần có quyền lực đối với những quyết định quản lý, thuộc về chương trình, các cá nhân Bộ trưởng cần được trao thêm quyền lực đối với những quyết định chương trình. Những vấn đề này phải được đi kèm tính minh bạch và tính trách nhiệm, đồng thời đòi hỏi phải một chiến lược chặt chẽ.
Tính tiên liệu: Trong quản lý chi tiêu công, tính tiên liệu đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách và chương trình có hiệu quả và hiệu lực. Ở những quốc gia mà có sự ổn định kinh tế vĩ mô và chính sách chiến lược thì ở đó khu vực công sẽ thực hiện tốt hơn chức năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Vấn đề này đòi hỏi cần chú ý đến sự cân đối giữa ngắn hạn và dài hạn.
Chính sách tài khóa phải chú ý đến nhu cầu để làm chắc chắn dòng chảy của các quỹ tiền tệ đến các chương trình, dự án đúng lúc. Điều này đòi hỏi phải cách tiếp cận trung hạn đối với việc điều chỉnh những mất cân đối ngân sách và đánh giá chương trình.
Tính trung lập: Tính trung lập yêu cầu ngân sách nên xuất phát từ những dự toán không có sự thiên vị cả thu lẫn chi. Sự thiên vị này có thể bắt nguồn từ những vấn đề thuộc về chính trị lẫn kỹ thuật. Những dự toán quá lạc quan sẽ làm mềm đi giới hạn ngân sách và dẫn đến sự thất bại trong việc thực hiện những chiến lược chính sách ưu tiên .
Thông tin: Thông tin tốt sẽ làm vững chắc thêm tính trung trực và đưa
Tính minh bạch và tính trách nhiệm: Tính minh bạch và tính trách nhiệm yêu cầu các quyết định, cùng với cơ sở kết quả và chi phí của nó có thể tiếp cận rõ ràng và được thông tin rộng rãi cho công chúng. Tính minh bạch đòi hỏi những người ra quyết định phải có tất cả những dữ liệu và thông tin thích hợp. Người ra quyết định phải có trách nhiệm về thực thi quyền lực đã được trao.
3.2.2. Quản lý chi tiêu công cần đặt trong khuôn khổ chi tiêu trung hạn.
Với việc thiết lập khuôn khổ chi tiêu trung hạn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu công:
Tăng cường năng lực của Chính phủ trong soạn lập ngân sách, đặc biệt là khả năng dự báo khi phân bổ ngân sách.
Tăng cường kỷ luật ngân sách và tính minh bạch cũng như trách nhiệm giải trình trong sử dụng nguồn lực công.
Tăng cường chất lượng những thông tin ngân sách, tính rõ ràng của các mục tiêu chính sách.
Hướng sự tập trung của các quan chức chính phủ vào thời kỳ trung hạn chứ không chỉ một năm ngân sách hiện hành.
Cho phép Chính phủ tập trung nhiều hơn vào những ưu tiên mang tính chiến lược mà vẫn làm cho quy trình ngân sách toàn diện hơn.
3.2.3. Hoàn thiện phân cấp, phân quyền trong quản lý chi tiêu công
Hiện nay ở nước ta, cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, việc phân cấp, phân quyền, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp, từng ngành, từng địa phương, từng đơn vị trong quản lý tài chính nhà nước đang nổi lên như một xu hướng phát triển khá rộng rãi và rõ nét.
Phân cấp quản lý NSNN, tăng cường tính chủ động của các cấp chính quyền địa phương, duy trì tính thống nhất của ngân sách Nhà nước và vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương là những yếu tố sẽ có những đòi hỏi cụ thể
Đối với trung ương, tài chính công cần được sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ mô sắc bén, hiệu quả, góp phần thúc đẩy, khai phá, mở đường cho kinh tế-xã hội phát triển, đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH. Muốn vậy, điều kiện tiền đề là phải có một hệ thống thông tin về tài chính công thông suốt, kịp thời, đáng tin cậy, đồng thời phải có tư tưởng và quan điểm đổi mới mạnh mẽ trong lĩnh vực quản lý tài chính công.
Đối với các địa phương, các đơn vị thụ hưởng NSNN và các nguồn tài chính công khác, đã xuất hiện nhu cầu bức xúc cần xác định rõ ràng trách nhiệm và quyền chủ động trong quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính công nhằm nâng cao số lượng và chất lượng các dịch vụ công.