Môi trường kinh doanh vĩ mô

Một phần của tài liệu phân tích thực trạng Công ty cổ phần sữa Việt Nam.doc (Trang 26 - 30)

Bảng 3-6 : Dự báo tăng trưởng kinh tế của Wold Bank tháng 11 năm 2008

(Cuối năm 2008 dự báo của WB còn khá lạc quan về tăng trưởng kinh tế thế giới. Dự báo mới nhất của WB vào tháng 4/2009 đã hạ mức dự báo tăng trưởng của các quốc gia. Kinh tế thế giới giảm khoảng 1.7%, các nước phát triển giảm 3%, tăng trưởng của Trung Quốc chỉ còn 6.5%, các nước Đông Nam Á, Singapore, Malaysia, Thái Lan tăng trưởng âm).

Tăng trưởng GDP trung bình trong giai đoạn 2000 - 2007 đạt 7.6% (tính toán từ số liệu của Wold Bank). Năm 2007, tăng trưởng 8.48%, đây cũng là mức tăng cao nhất từ sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. So với các nước trong khu vực và trên thế giới, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam những năm gần đây khá ấn tượng. Dù đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhưng đây không phải là một hiện tượng thần kỳ vì theo tính toán của các nhà kinh tế thì tăng trưởng của Việt Nam đang ở dưới mức tiềm năng.

Năm 2008, chịu ảnh hưởng từ bất ổn kinh tế vĩ mô và khủng hoảng tài chính thế giới, tăng trưởng GDP chỉ đạt 6.19% [số liệu từ cục thống kê]. Tốc độ tăng trưởng này thấp hơn nhiều so với năm 2007 và mục tiêu đã đề ra của chính phủ.

Thu nhập bình quân đầu người tính bằng USD bình quân năm 2008 là 1,024 USD/người. Tuy vậy, thu nhập bình quân đầu người tính theo giá năm 1999 chỉ đạt 758 USD, tính theo sức mua tương đương đạt khoảng 3,500 USD/người/năm, xếp thứ 120 trên 174 quốc gia trên thế giới. Như vậy Việt Nam vẫn còn là một nước có thu nhập thấp. Do vậy tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn có thể được duy trì ở mức cao trong nhiều năm tới.

Sự phát triển kinh tế làm dịu bớt các áp lực cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh của công ty, do làm tăng nhu cầu của dân chúng. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái làm giảm nhu cầu tiêu dùng dễ tạo sự cạnh tranh về giá.

Năm 2008 là năm chứng kiến nhiều biến động rất lớn trong tình hình kinh tế thế giới lẫn nội tại nền kinh tế Việt Nam. Khủng hoảng bắt nguồn từ thị trường tài chính từ Mỹ đã nhanh chóng lan rộng sang các quốc gia khác và ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu. Tại Việt Nam, lạm phát tăng vọt, lãi vay ngân hàng cao, và tỷ giá biến động gây khó khăn cho rất nhiều doanh nghiệp. Giá tiêu dùng năm 2008 tăng cao ngay từ quý I và liên tục tăng lên trong quý II, quý III, nhưng quý IV liên tục giảm, nên giá tiêu dùng tháng 12 năm 2008 so với tháng 12 năm 2007 tăng 19,89% và chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm tăng 22,97%. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam chậm lại

chung và kinh tế Việt Nam nói riêng được dự báo sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong năm 2009.

Đối với ngành sữa, ngoài khó khăn chung của nền kinh tế, bê bối sữa nhiễm melamine phát hiện tại Trung Quốc và sau đó là tại các nước lân cận đã ảnh hưởng mạnh đến niềm tin của người tiêu dùng. Tiếp sau sự kiện melamine là việc một số sản phẩm sữa bột thành phẩm có hàm lượng đạm thấp hơn rất nhiều so với hàm lượng công bố trên bao bì. Các sự kiện liên tiếp liên quan đến chất lượng sữa thành phẩm này đã góp phần thúc đẩy xu hướng người tiêu dùng chuyển sang sử dụng sản phẩm của những thương hiệu có uy tín. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội cho Vinamilk phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Với quy trình sản xuất được kiểm tra chặt chẽ ngay từ khâu nguyên vật liệu đầu vào, thiết bị và công nghệ sản xuất hiện đại, đội ngũ nhân viên lành nghề, chất lượng sản phẩm của Vinamilk luôn tuân thủ các tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế. Chính vì vậy, trong vụ bê bối vừa qua, tất cả sản phẩm và nguyên liệu của Vinamilk đều không nhiễm melamine, một lần nữa khẳng định cam kết của Công ty đối với chất lượng sản phẩm.

Nhu cầu tiêu thụ sữa

Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm sữa tại Việt Nam tăng trưởng ổn định. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, người tiêu dùng cũng quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe và sử dụng các sản phẩm sữa nhiều hơn, đặc biệt là sữa bột, sữa nước và sữa chua. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong 2009 mặc dù sụt giảm nhưng vẫn được IMF và World Bank dự báo ở mức 5% hoặc hơn. Quy mô dân số năm 2008 đạt 86 triệu người, tỷ lệ tăng dân số khoảng 1,2%, tốc độ đô thị hóa tăng dần với tỷ lệ dân số thành thị tăng từ 25% năm 2003 lên 28% năm 2008 . Đây là các yếu tố giúp kích thích nhu cầu tiêu thụ sữa trong tương lai.

2. Chính sách thuế của chính phủ

Theo cam kết gia nhập WTO, mức thuế nhập khẩu sữa bột thành phẩm đến năm 2012 sẽ ở mức 25%. Tuy nhiên, mức thuế nhập khẩu hiện nay đang thấp hơn cam kết, tạo điều kiện cho các sản phẩm sữa bột nhập khẩu cạnh tranh dễ dàng hơn với các sản phẩm nội địa.Thuế nhập khẩu nguyên liệu sữa cũng tạm thời thấp hơn cam kết với WTO. Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 75% nguyên liệu bột sữa để sản xuất do nguồn cung trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu, việc giảm thuế sẽ có lợi cho nhà sản xuất trong

nước. Tuy nhiên, hiện cũng đang có một số đề xuất tăng thuế nhập khẩu để bảo vệ ngành chăn nuôi bò sữa trong nước.

3 Yếu tố xã hội

Tổng số dân của Việt nam vào 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009 là 85,789,573 người, trong đó có 25,374,262 người cư trú ở khu vực thành thị, chiếm 29,6%; dân số ở nông thôn là 60,415,311 người (chiếm 70,4%) và có 43,307,024 người là nữ, với tỷ số giới tính đạt mức 98,1 nam trên 100 nữ.

Từ thời điểm 01/4/1999, dân số nước ta tăng thêm 9,47 triệu người, bình quân mỗi năm tăng 947 nghìn người. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm trong thời kỳ giữa hai cuộc Tổng điều tra 1999 và 2009 là 1,2%/năm, giảm mạnh so với thời kỳ 1989-1999. Tuy nhiên, số phụ nữ trong độ tuổi 20-45 chiếm tỷ lệ cao và điều này sẽ dẫn đến tỷ lệ sinh vào những năm sau cao có thể dẫn đến tình hình bùng nỗ dân số lần hai. Điều này nếu không được kiểm soát sẽ dẫn đến nghèo đói chất lượng cuộc sống giảm. (nguồn từ cục thống kê ).

Một phần của tài liệu phân tích thực trạng Công ty cổ phần sữa Việt Nam.doc (Trang 26 - 30)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(31 trang)
w