Sự báo hiểu giữa Kinh Vu Lan và Kinh Địa

Một phần của tài liệu 100 CÂU HỎI PHẬT PHÁP TẬP 2 (Trang 142 - 168)

Tạng khác nhau như thê nào?

Hỏi: Xin /hẩy hoan hỷ cho biết sự khác biệt qua hai hình anh cua hai người con bảo hiểu cho me o trong Kính Vu Lan và Kinh Địa Tạng khác nhau như thê nào?

Đáp: Trong Kinh Địa Tạng, có nêu ra hai hình ảnh của hai người con báo hiểu cứu mẹ. Một là, ở phẩm thứ nhứt, tiết mục 5, nói về Bà la môn nữ cứu mẹ. Hai là, ở phẩm thứ tư, tiết mục 4, nói về Quang Mục cứu mẹ.

Nhưng trong câu hỏi của Phật tử, Phật tử không có nêu rõ là người con nào ở trong Kinh Địa Tạng, Bà La Môn Nữ hay là Quang Mục ? Vì không nêu rõ, nên ở đây, tôi xin nêu ra hiếu tử Quang Mục, để tạm so sánh sự dị đồng giữa hai người con như Phật tử đã hỏi.

Nếu xét trên tỉnh thần và mục đích báo hiểu giữa hai người con, nhằm hướng đến cứu thoát mẹ mình khỏi

tội để được giải thoát, thì ta thấy cả hai đều giống nhau.

Tuy nhiên, nếu luận về chỉ tiết qua thời gian, không gian vả hoàn cảnh, nhân vật, phát nguyện, phương pháp hành sự, và người chịu khổ v.v... thì ta thay có những

điểm khác nhau.

1. Xét về thời gian, và hoàn cảnh, ta thay co su khac biệt. Thời gian, và hoàn cảnh của nàng Quang Mục trong kinh Địa Tạng nói, so với thời gian, và hoàn cảnh của Tôn giả Mục kiền liên, trong Kinh Vu lan nói, thì khác biệt rất xa. Chuyện của Quang Mục cứu mẹ là việc xảy ra trong vô lượng kiếp về quá khứ, thời của một vị Phật hiệu là Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai. Đó là chuyện xảy ra quá xa xưa và chỉ là một chuyện truyền thuyết, chớ không phải là chuyện xảy ra trong lịch sử. Ngược lại, chuyện của Tôn giả Mục kiền liên cứu mẹ là việc xảy ra trong thời kỷ đức Phật Thích Ca còn tại thế. Đó là câu chuyện có thật trong lịch sử loài người.

2. Xét về nhân vật cũng có sự khác biệt. Quang Mục là một nhân vật người nữ không có trong lịch sử hiện thực. Đó chỉ là tiền thân của Bồ tát Địa Tạng. Còn Tôn giả Mục kiền liên là một nhân vật lịch sử có thật. Có quá trình xuất gia tu học và đắc quả, được sử liệu ghi chép rõ ràng. Và Ngài đã được nhơn loại thừa nhận là một nhân vật lịch sử trong thời đại đức Phật Thích Ca.

Và Ngài do công phu tu hành mà có được thần thông đệ nhất. Chính Ngài dùng huệ nhãn thay ro su doa lac

thọ khổ của mẹ Ngài. Con nang Quang Mục phải dâng phâm vật cúng dường và nhờ đền vị La Hán chỉ bảo mới biệt mẹ mình thọ khô.

3. Xét về phương pháp hành sự cứu mẹ thoát khỏi tội khô, thì giữa hai người cũng khác nhau. Ngài Mục kién liên thì dâng theo lời dạy của Phật, đích thân Ngài thỉnh Phật và chúng Tăng, sắm sanh phẩm › vật thiết lễ cúng dường trai tăng để cầu nguyện cho mẫu thân của Ngài. Ngài tô chức một buổi đại lễ trai tăng rất trang nghiêm trọng thể vào ngày lễ Tự tứ mãn hạ của chư Tăng. Ngược lại, nàng Quang Mục thì vâng theo lời dạy của vị La Hán vẽ đắp hình tượng của đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai và khóc than chiêm ngưỡng tượng Phật để cầu nguyện. Sau đó, nàng chiêm bao thấy Phật chỉ bảo cho biết là thân mẫu của nàng sẽ thác sanh vào trong nhà của nàng. Quả nhiên, người tớ gái trong nhà sanh ra một đứa con trai, chưa đầy ba tuổi đã biết nói. Đứa trẻ đó chính là bà mẹ của Quang Mục.

Bà mẹ cho biết, năm 13 tuôi sẽ chết và đọa vào địa ngục. Biết rõ đó là mẹ mình, nên Quang Mục vì cứu mẹ mà phát đại nguyện là sẽ cứu các tội khổ chúng sanh ở trong địa ngục. Như thế, phương pháp và hành sự cũng như bản nguyện cứu mẹ giữa hai người có khác nhau.

4. Nhân vật thọ khổ xét về nguyên nhân tạo nghiệp ác thì có phần giống nhau. Nhưng cách thọ khô cũng như sự tái sinh giữa hai người có khác nhau. Bà Thanh đề do lòng tham lam bỏn xẻn gây tạo nghiệp ác mà đọa

làm thân ngạ quý. Đói khát đau khổ trăm bề. Trong khi

đó, bà mẹ của Quang Mục vì tội sát sanh hại vật quá nhiều, ăn các loài cá trạnh, mà phải bị đọa vào địa ngục vô gián. Sau khi mãn kiếp địa ngục thác sanh vảo trong nhà làm con của một người tớ gái. Còn bà Thanh Đề nhờ thần lực chú nguyện của Phật và Thánh Tăng mà đánh động được lương tâm của bà. Nhờ bà ăn năn cải

hối chuyển đổi tâm ý mà được thoát khổ sanh lên cõi trời hưởng phước báo. Ngài Muc kién liên thì không có

phát đại thệ nguyện như Quang Mục. Nhờ sự phát nguyện của Quang Mục, mà đức Phật Thanh Tịnh Liên Hoa cho biết là sau 13 tuôi bà mẹ sẽ chết và tái sanh làm người Phạm Chí sống lâu trăm tuổi. Sau đó, sẽ sanh về cõi nước Vô Ưu sống lâu không thể tính kể.

Như vậy, việc hướng đến môi trường tái sanh của hai người cũng khác nhau.

Tóm lại, mục đích báo hiểu giữa hai người con cứu thoát mẹ mình, trên căn bản thì giống nhau. Cả hai đều đạt được mục đích và biểu lộ với tất cả tam lòng của một người con chí hiếu, dù bản nguyện. cách thức, việc làm và đối tượng cầu nguyện có phần khác nhau.

43. Dùng hoa quả giả chưng cúng Phật có lỗi không?

Hồi: 7a thầy, nếu con dùng nhang điện, hoa trái giả đề chưng trên bàn thờ cúng Phật, như vậy có mất đi vẻ trang nghiêm, bắt kính với Phật không? Và như thể có

lỗi không?

Đáp: Như ở câu hỏi số 33 trên, chúng tôi có thưa qua về việc cúng Phật băng những hình thức lễ nghi phẩm vật, mục đích là nhằm biểu lộ tâm lòng thành kính của chúng ta. Tuy đó là hình thức lễ nghi bể ngoài, nhưng chúng ta cũng phải giữ gin cho trang nghiêm tính khiết.

Thật ra, nêu chúng ta chưng bày thiết cũng bằng nhang điện hay hoa quả giả, nếu so với phâm vật tươi, thì nó kém đi phần trang nhã tươi mát và xinh lịch hơn. Tuy nhiên, vẫn đề nầy còn tùy thuộc vào tâm nguyện, hiểu biết, sở thích, khung cảnh không gian và hoàn cảnh của mỗi người. Bất kính hay là có lỗi không, thì hoàn toàn ở nơi cõi lòng của Phật tử, chớ không phải ở nơi đồ vật.

Phật tử nên tự hỏi lại cõi lòng của Phật tử. Nếu như Phật tử dâng cúng những phẩm vật sang trọng, đẹp đẽ, giá trị, tinh khiết, mà Phật tử không có lòng chí thành trong khi dâng cúng, thì đó mới là mất trang nghiêm,

bất kính và có lỗi. Không phải Phật tử có lỗi với Phật, vì Phật có bao giờ bắt lỗi Phật tử đâu, nhưng chính Phật tử có lỗi với lương tâm của Phật tử. Thế nên, làm

bất cứ điều gì, cần nhứt là ở nơi tâm thành. Người xưa 1: “chí thành thông thánh” là vậy.

Xưa kia, thời Phật còn tại thế, có một bà giả đi ăn xin,

bà nhịn ăn trong ngày để dành tiền mua dầu cúng Phật.

Cúng xong, tất cả những cây đèn của vua chúa, trưởng giả, những nhà quý phái giàu có sang trọng, tất cả những ngọn đèn đó, ngài Mục Kiên Liên đều quạt tắt hết. Chỉ có ngọn đèn của bà già ăn xin kia, Ngài quạt hoài không tắt. Thậm chí Ngài dùng đến thần thông quạt mà nó cũng không tắt. Thấy thế, Ngài bạch trình với Phật. Phật nói, ngọn đèn đó là của một bà già ăn

xin. Thay vì bà dùng đồng tiền xin được để mua thức ăn, nhưng bà lại nhịn đói để mua dầu cúng dường. Do

lòng chí thành tha thiết đó, nên kết quả bà mới được

công đức vô lượng tốt đẹp như thế.

Hiện chúng ta đang sống trong thời đại khoa học kỹ thuật điện tử, nên thường người ta trần thiết trang trí bày biện những vật dụng để cúng Phật, phần nhiều là bằng những loại mang tính chất điện tử cả. Như đèn, nhang, hào quang v.v... mọi thứ đều được thiết trí bằng những hình thức giả tạo.

Điều nây, nếu xét trên phương diện hình thức, ta thấy cũng rất trang nghiêm và đồng thời cũng giữ cho môi

trường sinh hoạt được tỉnh khiết trong lành. Đây cũng

là điều rất quan trọng để bảo vệ cho sức khỏe của mọi người. Thường trong nhà, nếu ta thắp nhang đèn, thì lượng khói của nó sẽ lan tỏa ra khắp không gian làm cho chúng ta bị choáng ngợp rất là khó thở. Lý do, là vì khung cảnh không gian trong nhà quá chật hẹp. Do đó,

mà mùi khói khó có lối thoát. Hơn nữa, có nhiều người

dễ bị dị ứng mùi khói nhang. Theo các nhà khoa học cho biết, mùi khói nhang cũng dễ gây ra cho người ta bị bệnh. Do đó, ngay cả trong chùa, chư Tăng Ni cũng vẫn thường sử dụng thiết trí các loại nhang đèn băng điện. Ngoại trừ những buổi lễ quan trọng. thì người ta

mới thắp nhang thiệt và tối đa chỉ có 3 cây thôi.

Có nơi, sau khi nguyện hương xong, người ta đem cấm nhang ở một nơi khác, chớ không có cầm vao cai lu hương trên bàn thờ Phật ở chánh điện. Vì đê tránh mùi

khói nhang gây ra làm cho mọi người khó chịu. Tuy nhiên, vẫn đề nây, vào những ngày đại lễ quan trọng ở trong chùa, đối với người Phật tử thì có khác. Cần nói thêm, theo lệ thường ở Việt Nam, mỗi khi người Phật tử đến chùa lễ Phật, trước tiên là họ thắp hương đem cấm vào các bàn thờ Phật và nhất là các bàn thờ vong.

Rồi sau đó họ mới đến bàn thờ chánh để lạy Phật.

Nhân đây, chúng tôi cũng xin được mạng phép góp chút thành ý trong vấn đề thắp hương của người Phật tử chúng ta. Theo phong tục của người Á Đông nói chung, người Việt Nam nói riêng, vào ngày đầu năm Tết Nguyên Đán, nhất là tối đêm giao thừa, chúng ta thấy trong chùa chỗ nào cũng đây mùi khói nhang bay nghi ngút mit mu. Phần thì số lượng người quá đông đảo, phân thì hít thở hưởng mùi khói nhang ai nây đều muốn nghẹt thở. Vẫn biết, đây là một phong tục cổ truyền lâu đời khó bỏ, nhưng nếu mạnh ai nấy thắp, nhất là những người Hoa, họ thắp rất nhiều nhang. Thế thì, bảo sao không gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường chung quanh cho được? Và nhất là rất có hại cho sức khỏe của con người. Dĩ nhiên, trong đó cũng có họ nữa.

Tuy biết đây là phong tục, nhưng nếu chúng ta xét thấy, điều gì bất lợi không còn phù hợp vệ sinh cho môi trường sống nữa, thì chúng ta cũng nên suy xét mà cải

thiện giảm bớt đi. Chúng ta không nên quá câu nệ cố

chấp vào hình thức mà gây nên tai hại chung cho tập thể. Nếu chúng ta chưa có thể bỏ hăn được, thì chúng tôi xin đề nghị là nên giảm bớt. Giảm bớt như thế nào?

Giả như, có nhiều thành viên trong một gia đình cùng

đi chùa lễ Phật, thì chỉ một người đại diện thắp một cây

nhang là đủ. Còn những người khác thành tâm chấp tay khan nguyện, xong rồi, mọi người đồng lạy Phật. Còn nếu là cá nhân không phải chung trong gia đình, thì mỗi người chỉ nên thắp một cây nhang thôi, không nên thắp nhiều quá.

Xin thưa, việc cầu nguyện là do ở nơi lòng thành của

chúng ta, chớ không phải ở nơi thắp nhang nhiều hay ít.

Không phải thắp nhiều chư Phật mới chứng minh, còn

thắp ít thì chư Phật không ngó tới. Có người sợ thắp ít

nhang quá, thì Phật không chứng minh cho lời cầu nguyện của mình. Đó là một quan niệm rất sai lầm, thật quá mê tín, ta cần nên bỏ. Người Phật tử chúng ta nên ý thức và hiểu rõ điều đó. Nếu mỗi người ý thức giảm bớt tôi thiểu, thì quả đó là chúng ta tiếp tay đóng góp vào việc bảo vệ môi trường, và tạo nên bầu không khí trong lành để mọi người cùng chung cộng hưởng.

Tóm lại, việc làm của Phật tử, theo tôi, thì không có gì là mất trang nghiêm, bất kính hay có lỗi cả. Có lỗi hay không là ở nơi tâm ý, thái độ, và việc làm của chúng ta.

Điều quan trọng là ở nơi tắm lòng thành kính của Phật Tử. Tổ Ấn Quang thường dạy, có một phân cung kính là có thêm một phần phước đức. Tuy nhiên, tôi xin đề

nghị với Phật tử là ngày thường thì Phật tử có thể

chưng bày như thế được, nhưng đến những ngảy sóc vọng răm hay ba mươi (nếu tháng thiếu là 29), Phật tử nên mua hoa quả tươi cúng Phật thì hay hơn. Hình thức tuy cũng rất cần, nhưng tùy hoàn cảnh mà chúng ta khéo léo linh động cho phù hợp với môi trường và

hoàn cảnh nếp sống của chúng ta. Kính chúc Phật tử vui sông trong an lành và hạnh phúc.

44. Vì bảo vệ đàn chỉm đuôi con mèo có lỗi không?

Hỏi: Kính thưa thây, có một hôm con đang cúng thí thực gao mudi, xong roi ray cho chim ăn, bỗng có một con mèo hoang gây ôm nhảy đến chup dan chim, lién đó con đuổi con mèo chạy di nơi khác, đề đàn chim được tự nhiên ăn. Hành động đó của con, không biết con có lỗi với con mèo không?

Đáp: Nếu bảo có lỗi với con mèo không, theo tôi, thì hành động đó dĩ nhiên là có lỗi rồi. Lỗi ở chỗ là tình thương của Phật tử còn thiên vị không công băng. Như Phật tử nói, con mèo đó lại là con mèo hoang gay ốm nữa. Như thế, chứng tỏ trong những ngày qua, nó rất là đói khát đau khổ. Thật là đáng thương xót! Nó không có thức ăn. Nó rất cần đến thức ăn của chúng ta ban cho. Nay nó thấy Phật tử rảy thức ăn, nó không cần biết thức ăn đó là gì, cho nên nó mới nhảy vô tranh giành với đàn chim. Đó là bản năng sinh tồn của nó. Nhưng khi nó đến giành ăn với đàn chim, thì bị Phật tử nhẫn tâm lại đuổi nó đi. Hành động đó, theo tôi, thì Phật tử có hơi tàn nhẫn. Bởi sự giành ăn giữa các loài thú vật với nhau, đó cũng chỉ là bản năng bảo vệ mạng sống rất thường tỉnh của chúng mà thôi. Nói rõ ra, đó là nghiệp quả của chúng.

Nếu chúng ta cho sự giành ăn của con mèo, là ý mạnh

hiếp yếu, thì Phật tử thử xét lại xem, hành động của

loài người chúng ta có ý mạnh hiếp yếu hay không?

Chúng ta có tranh giành câu xé sát hại lẫn nhau không?

Chúng ta mệnh danh là con người tính khôn gap may ngàn lan loài vật, thế thì, chúng ta thử tự hỏi về lãnh vực này, chúng ta có hơn chúng nó không? Hay là chúng ta hành xử với nhau còn tệ hơn chúng nó? Đó là những vấn đề, thiết nghĩ, chúng ta cũng cần nên quán chiếu suy tư chín chăn!

Nếu như Phật tử sợ những con chim bị con mèo làm

mat miéng ăn mà chúng nó đói khát, thì tại sao Phật tử

không tìm thức ăn khác cho con mèo? Nếu Phật tử có tình thương trang trải mở rộng tâm lòng của người Phật tử, Phật tử kiếm thức ăn khác cho con mèo ăn, thì tôi nghĩ, con mèo nó sẽ đội ơn Phật tử biết là ngần nao! Vi nó đang cần đến thức ăn tình thương của Phật tử ban cho. Như một ngưòi đang đói khát, họ cũng cần đến tình thương của người khác ban cho. Nếu luận về nhu cầu cho sự sống để nuôi thân, thì giữa loài người và loài vật đầu có gì khác biệt nhau? Vì loài nào cũng cần đến sự sống kia mà! Luận cho cùng, khi lâm vào cảnh khô đói khát, thì loài nào cũng cần đến sự giúp đỡ thi ân của kẻ khác. Nhất là loài người của chúng ta.

Trường hop nay, néu như lần sau, có xảy ra tương tự

như thế, thì tôi thành thật khuyên Phật tử nên xử sự cho

công bằng. Bằng cách là Phật tử nên ban bố tình thương của mình cho đồng đăng. Như thế, thì con vật nào đói khát cũng được Phật tử bố thí cho ăn. Được

vậy, thì nó sẽ cám ơn Phật tử vô cùng. Phật tử cũng đã từng nghe qua những mẫu chuyện cổ tích, nói về chuyện cứu vật, cứu người. Như câu chuyện “cứu vái thi vat trả án, cứu nhân thì nhân tra oan”. Tuy đây là chuyện cổ tích, nhưng không phải là không có xảy ra trong thực tế. Mong Phật tử suy xét để thể hiện hành động đúng theo tỉnh thần từ bi bình đăng của đạo Phật.

Kính chúc Phật tử vạn sự an lành.

45. Con cái chưa xong bê gia thất, mình bỏ đi xuât gia có lôi không?

Hỏi: Kính bạch thầy, người bạn đời của con đã mái, các con của con chưa lập gia đình mà con đi xuất gia, như vay con có thiếu bồn phán cua mot người mẹ doi với con cua con không? Con có ích kỷ chỉ lo cho bản thân mình không? Kính mong thây giảng giải nổi thắc mắc cho con.

Đáp: Nếu bảo Phật tử thiếu bốn phận hay ích kỷ, theo tôi nghĩ, thì không hắn như thế. Tuổi tre đối với xã hội nay, thật ra, chúng nó cũng không cần đến sự bảo hộ chăm sóc của cha mẹ về vẫn đề vật chất. Bởi vật chất ở

xứ Úc nây, đâu có gì thiếu thốn. Còn nói về tỉnh thần, thì đâu phải Phật tử vào chùa xuất gia tu hành là không

còn quan tâm gì đến con cái. Người xuất gia, tuy trang trải tình thương rộng khắp, nhưng đối với những người thân ruột thịt của mình, tất nhiên, mình cũng phải có sự quan tâm đến trước. Nếu không có tình thương yêu như thế, thì đừng nói đến tình thương yêu rộng lớn khắp cả chúng sanh. Trong Kinh Phật thường nói, Phật thương

Một phần của tài liệu 100 CÂU HỎI PHẬT PHÁP TẬP 2 (Trang 142 - 168)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(366 trang)