CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC AN TOÀN – VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI
2.3. Đánh giá điều kiện lao động và môi trường lao động tại Công ty
2.3.3. Ecgonomi và các yếu tố gánh nặng thể lực
2.3.3.1. Tư thế lao động.
Đối với công nhân làm việc trong phân xưởng may, lao động của công nhân được đánh giá thuộc vào loại lao động nặng nhọc bậc 4 bởi ngoài những yếu tố môi trường lao động ảnh hưởng tới người lao động thì tư thế làm việc của công nhân may cũng ảnh hưởng không nhỏ đến người lao động.
Người lao động phải thường xuyên làm việc trong tư thế lao động gò bó, tính chất công việc đơn điệu, thao tác lặp đi lặp lại nhiều lần.
Công nhân trong Công ty chiếm phần lớn là làm việc ở tư thế ngồi, ít đi lại với các loại máy như máy may 1 kim, 2 kim, máy dập khuy, máy vắt sổ... công nhân khu nhồi bông, tẩy chất bẩn trên vải, bông. Thao tác của công nhân lặp đi lặp lại nhiều lần, đơn điệu khiến người lao động bị mỏi lưng, cổ do phải cúi, đau xương khớp. Trong quá trình may mức độ tập trung thị giác cũng rất cao, kích thước đối tượng quan sát rất nhỏ như sợi chỉ, đầu kim và mũi may cộng với ánh sáng trong Công ty chủ yếu là ánh sáng đèn huỳnh quang khiến người lao động dễ bị căng thẳng, đau đầu, mệt mỏi, thị giác bị suy giảm.
Với những công nhân làm việc tại các máy cắt, công nhân là hơi, máy ép mếch, máy cắt vòng thì tư thế lao động là tư thế đứng. Công nhân làm việc tại máy cắt tay ,máy ép mếch, máy cắt vòng luôn phải đứng và hai tay luôn di chuyển liên tục, mắt luôn tập trung nhìn vào chi tiết khiến người lao động bị mỏi chân, đau khớp, phải chịu gánh nặng tĩnh ở các cơ. Đặc biệt công nhân làm việc tại máy cắt, với bàn thao tác quá lớn, nếu làm ở tư thế đứng người công nhân không thể cắt hết vải do đó công nhân luôn phải chồm người, thậm chí ngồi cả lên bàn thao tác để cắt với tư thế gò bó, luôn phải cúi, mắt tập trung cao độ khiến người công nhân nhanh bị mệt mỏi, đau các khớp xương, mỏi cổ, cúi nhiều gây chèn ép khoang bụng, lồng ngực, hạn chế lưu thông hệ tuần hoàn, lồng ngực.
Máy móc của Công ty chủ yếu là nhập khẩu từ Nhật nên sự không phù hợp giữa máy móc và con người tại Công ty cũng được hạn chế. Tại Công ty chỉ có những công nhân làm việc tại máy cắt là do bàn làm việc không phù hợp, vùng làm việc quá lớn.
Nguyễn Văn Tiệp - Lớp BH16 35 Khoa Bảo Hộ Lao Động
Với thực trạng trên thì Công ty đã khắc phục bằng cách cho công nhân nghỉ giữa ca làm việc 5 – 10 phút để giảm bớt sự căng thẳng, mệt mỏi cho công nhân.
Hàng năm công ty cũng tổ chức khám sức khỏe định kì 6 tháng/1 lần cho công nhân phát hiện bệnh để chữa trị kịp thời. Theo kết quả khám sức khỏe định kì của Công ty năm 2010 thì có 112/ 700 công nhân mắc bệnh về cơ xương khớp, có 40 người mắc bệnh về mắt chủ yếu là giảm thị lực.
2.3.3.2. Cường độ lao động.
Hiện nay công nhân tại Công ty làm việc 6 ngày/ tuần, mỗi ngày công nhân làm việc được chia làm 2 ca : Buổi sáng từ 7h – 11h30, buổi chiều từ 13h – 18h30. Như vậy 1 ngày công nhân làm việc với cường độ 10h/ ngày vượt thời gian làm việc cho phép đối với người lao động là 2h ( 8h/ ngày theo điều 68 của Bộ luật lao động).
Để giảm bớt sự căng thẳng và mệt mỏi cho công nhân thì Công ty cũng bố trí cho công nhân thời gian nghỉ giữa ca sáng và chiều từ 5 – 10 phút để công nhân có thời gian đi lại, uống nước giảm căng thẳng và mệt mỏi.
Song với tư thế lao động gò bó, đơn điệu, thao tác lặp đi lặp lại nhiều lần, sự tập trung thị lực cao cũng với các yếu tố môi trường và điều kiện lao động bất lợi như nhiệt độ nóng, tiếng ồn... gây mệt mỏi cho người lao động và làm giảm năng suất lao động. Theo nghiên cứu của các chuyên gia về tâm lí lao động thì tâm lí người lao động tốt nhất là ở đầu ca làm việc, còn cuối ca làm việc do tác động của nhiều yếu tố điều kiện lao động làm cho người lao động mệt mỏi, giảm năng suất lao động.
Do đó Công ty cần có những biện pháp khắc phục để giảm thiểu cường độ làm việc và tư thế lao động của công nhân trong quá trình làm việc.
2.4. Tình hình thực hiện chính sách, chế độ về bảo hộ lao động tại Công ty.
2.4.1. Kế hoạch bảo hộ lao động.
Hàng năm khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh công ty cũng lập kế hoạch, biện pháp an toàn – vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động. Nội dung kế hoạch bảo hộ lao động năm 2012 của Công ty như sau:
Các biện pháp về kĩ thuật an toàn và phòng chống cháy nổ
Quản lí chặt chẽ các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động ( hệ thống lò hơi, bình áp lực)
Thường xuyên kiểm tra, sửa chữa phát hiện kịp thời máy hỏng hóc.
Quản lí hồ sơ và theo dõi hoạt động các máy móc, thiết bị, làm các thủ tục đăng ký sử dụng thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động.
Tuân thủ qui trình, quy phạm vận hành an toàn thiết bị và quá trình sản xuất.
Có kế hoạch và phương án phòng chống cháy nổ, trang bị đầy đủ các phương tiện phòng chống cháy nổ, duy trì hoạt động đội xung kích phòng chống cháy nổ và được huấn luyện công tác phòng chống cháy nổ theo yêu cầu của công an phòng chống cháy nổ tỉnh Bắc Ninh.
Các biện pháp vệ sinh lao động
Duy trì hoạt động xử lý chất thải của Công ty đảm bảo vệ sinh môi trường.
Thực hiện thường xuyên công tác vệ sinh công nghiệp tại nơi làm việc, các nhà xưởng, sân bãi, mương rãnh thoát nước, duy trì khuôn viên công ty xanh sạch đẹp.
Thực hiện nơi làm việc đảm bảo thông thoáng, thuận lợi, duy trì bảo dưỡng hệ thống thông gió (quạt gió và hệ làm mát).
Chăm sóc sức khỏe cho người lao động, tổ chức khám sức khỏe định kì 6 tháng/
lần để phát hiện bệnh chữa trị kịp thời.
Có đủ cơ số thuốc y tế điều trị bệnh thông thường tại phòng y tế tại phân xưởng.
Hướng dẫn thực hiện công tác an toàn vệ sinh thực phẩm, thực hiện tốt các nội quy, quy định về ăn uống cho công nhân, theo dõi phổ biến các biện pháp phòng chống dịch bệnh lây lan trong cộng đồng.
Thực hiện tốt thời gian làm việc nghỉ ngơi cho người lao động
Tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện cho người lao động.
Phổ biến các chính sách chế độ về bảo hộ lao động , có nghĩa vụ trách nhiệm và quyền lợi đến tận người lao động.
Tổ chức huấn luyện cho người lao động về công tác an toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ hàng năm.
Thường xuyên kiểm tra, kiểm tra định kì về công tác bảo hộ lao động, nhắc nhở người lao động chấp hành tốt công tác an toàn vệ sinh lao động.
Bổ sung các nội quy an toàn lao động, quy trình sản xuất, các khẩu hiệu, biển báo an toàn lao động treo tại nơi sản xuất.
Nguyễn Văn Tiệp - Lớp BH16 37 Khoa Bảo Hộ Lao Động
Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân.
Công ty thực hiện trang cấp các phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động theo thông tư số 10 /1998-TT- BLĐTBXH Hướng dẫn thực hiện chế độ trang bị Phương tiện bảo vệ cá nhân( PTBVCN) và điều kiện của công ty
Mặc dù được phát PTBVCN nhưng trên thực tế thì công nhân trong công ty sử dụng phương tiện bảo hộ cá nhân trong quá trình làm việc rất ít do ý thức người lao động và cũng do cán bộ chịu trách nhiệm an toàn lao động chưa làm hết nhiệm vụ của mình.