CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ QUYẾT ĐỊNH MUA BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu ngoài nước
1.1.2. Các nghiên cứu dựa trên việc xem xét tác động của các biến tổng hợp đến
Beck và Webb (2003b) đã thực hiện một nghiên cứu trên 68 quốc gia trên thế giới, chú ý đến câu hỏi gây ra sự khác biệt trong mức tiêu thụ bảo hiểm nhân thọ giữa các quốc gia khác nhau. Kết quả của Beck và Webb (2002), nghiên cứu của Ward và Zurbruegg (2002) cho thấy thực tế là cải thiện quyền công dân và ổn định chính trị dẫn đến tăng tiêu thụ bảo hiểm nhân thọ ở khu vực châu Á cũng như Vùng OECD. Kết quả của nghiên cứu phù hợp với mối quan hệ đường cong S được đề xuất bởi Enz (2000), bởi vì ở các nước có mức thu nhập cao ban đầu, mức tiêu thụ bảo hiểm ít nhạy cảm hơn với thu nhập tăng.
Trên cơ sở đó thì đã có một số lượng lớn các nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố đến nhu cầu và quyết định mua bảo hiểm nhân thọ. Theo đó kết quả nghiên cứu đã cho thấy số lượng bảo hiểm nhân thọ được mua được xem xét dựa trên một lượng lớn các biến. Những biến số này được khám phá thông qua nhiều cách tiếp cận và dữ liệu khác nhau và được giải thích dựa vào số lượng lớn các nhân tố mà có ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm. Tuy nhiên những nghiên cứu trước đây đã từng cung cấp những kết luận mâu thuẫn nhau. Hầu hết những nghiên cứu liên quan đến định nghĩa về nhu cầu bảo hiểm nhân thọ dựa trên những dữ liệu thực nghiệm. Những biến số về nhân khẩu học, kinh tế, tâm lý học được tìm thấy là có ảnh hưởng mạnh mẽ trong việc dự báo nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ vì vậy sẽ tập trung phân tích những nghiên cứu này.
Các kết quả nghiên cứu đã đạt được theo hướng này phải kể đến bao gồm : 1.1.2.1. Những nghiên cứu về bảo hiểm nhân thọ liên quan đến nhân khẩu học
Các nghiên cứu xem xét sự ảnh hưởng của biến số nhân khẩu học bao gồm rất nhiều yếu tố như: tuổi tác, tôn giáo, giáo dục, tỷ lệ phụ thuộc, quy mô gia đình….bao gồm những nhân tố sau đây:
Ảnh hưởng của nhân tố tuổi tác đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ
(Showers và Shotick (1994); Berekson (1972); Baek và DeVaney (2005b)) đã tìm thấy rằng ảnh hưởng của tuổi tác có tác động tích cực và đủ nhưng kết quả của (Chen (2009); Chen và cộng sự (2001); Bernheim (1991)) cho thấy mối liên hệ phủ định giữa tuổi tác và nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ trong khi đó (Hammond và cộng sự (1967); Duker (1969); Anderson và Nevin (1975); Burnett và Palmer (1984); Gandolfi và Miners (1996)) khẳng định rằng tuổi tác không phải là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ. Ảnh hưởng của tuổi tác đến việc nắm giữ bảo hiểm nhân thọ cũng được kiểm tra trong những mô hình khác.
Ảnh hưởng của nhân tố thuộc về giáo dục đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ Hầu hết những nghiên cứu như (Hammond và cộng sự (1967); Duker (1969); Anderson và Nevin (1975); Burnett và Palmer (1984); Gandolfi và Miners (1996); Baek và DeVaney (2005b)) đã nhất trí trong những nghiên cứu của mình rằng có mối liên hệ tỷ lệ thuận giữa trình độ giáo dục và nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ. Họ gợi ý rằng những người mà có trình độ đào tạo tốt hơn sẽ mua Bảo hiểm nhân thọ nhiều hơn, tiềm năng dẫn đến thực tế này là do những hộ gia đình có trình độ đào tạo tốt hơn có thể kỳ vọng về những khoản thu nhập của họ tiếp tục gia tăng với tỷ lệ nhanh hơn và trong giai đoạn dài hơn.
Sử dụng dữ liệu khảo sát về tiêu dùng tài chính năm 2001, Baek và
DeVaney (2005b) đã kiểm tra ảnh hưởng của vốn con người, động cơ thừa kế và rủi ro trong điều khoản và giá trị tiền mặt đến việc mua bảo hiểm nhân thọ của các hộ gia đình. Trong khi đó (Hwang và Gao, 2003) nhấn mạnh rằng giáo dục làm gia tăng việc nhận ra chức năng của các các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ. Do vậy, tất cả những nghiên cứu này giả thuyết có một mối liện hệ tỷ lệ thuận giữa giáo dục và tiêu dùng bảo hiểm nhân thọ.
Ảnh hưởng của quy mô gia đình và tỷ lệ phụ thuộc đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ
Các nghiên cứu này cũng chỉ ra quy mô và gia đình hay số lượng con cái là những biến giải thích đủ lớn cho việc xác định nhu cầu bảo hiểm nhân thọ. Trong đó số con là một trong các biến có liên hệ tỷ lệ thuận. Burnet & Palmer lưu ý rằng khi số con gia tăng, số lượng bảo hiểm được mua cũng tăng. Điều này được kỳ vọng với các hộ gia đình mà có nhiều con hơn thì có nhu cầu về các nguồn lực tài chính lớn hơn nếu như người đứng đầu hộ gia đình tử vong. Trong khi đó, Anderson và Nevin (1975) đã có được kết quả nghiên cứu rằng không có đủ mối liên hệ giữa quy mô gia đình với việc mua bảo hiểm nhân thọ sử dụng dữ liệu quá trình quyết định tiêu dùng giai đoạn 1968 – 1971. Theo như nghiên cứu của Lewis (1989), nhu cầu cho bảo hiểm nhân thọ gia tăng với số lượng người phụ thuộc trong một gia đình. Campbell (1980) và Li và cộng sự (2007) cũng đã có kết luận rằng việc bảo vệ những người phụ thuộc chống lại những khó khăn về tài chính là động cơ chính dẫn tới nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ. Các tác giả đã sử dụng tỷ lệ phụ thuộc về tuổi (tỷ lệ những người phụ thuộc dưới 15 và trên 64 trên tổng số dân trong độ tuổi lao động từ 15 đến 64) để đo lường mối quan hệ này. Trong khi đó, (Beck và Webb, 2002) tìm thấy một mối liên hệ tham vọng về tỷ lệ phụ thuộc trẻ em và mối liên hệ tỷ lệ thuận cho tỷ lệ phụ thuộc người già. Tổng quan lại, nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ được giả thuyết là có liên hệ tỷ lệ thuận với tỷ lệ phụ thuộc.
Ảnh hưởng của nhân tố việc làm đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ
Những nghiên cứu trước đây đã đưa đến kết luận mang tính khẳng định rằng nếu người trụ cột gia đình hay người chồng có việc làm thì nhiều hợp đồng bảo hiểm nhân thọ sẽ được mua bởi các cá nhân hay các hộ gia đình này. Tác giả của các nghiên cứu này bao gồm (Hammond và cộng sự, 1967; Mantis và Farmer, 1968; Duker, 1969; Ferber và Lee, 1980) đã phát triển mô hình một giai đoạn của số lượng bảo hiểm nhân thọ được mua bởi 1 cặp đã kết hôn với dữ liệu đánh giá từ Wisconsin và khảo sát thu nhập giai đoạn 1946 – 1964. Biến phụ thuộc trong nghiên cứu này là tổng số tiền bảo hiểm nhân thọ được nắm giữ bởi người chồng.
Những kết quả nghiên cứu này đã cho thấy rằng nghề nghiệp của người chồng có
tác động tỷ lệ thuận với số lượng bảo hiểm nhân thọ nắm giữ. Tuy nhiên phân tích của (Baek & Devaney, 2005), đã khẳng định rằng sự tham gia vào lực lượng lao động của những người vợ đã đẩy mạnh việc mua bảo hiểm nhân thọ cả về giá trị tiền mặt và các điều khoản bảo hiểm của các hộ gia đình.
Ảnh hưởng của tôn giáo đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ
Sự hiểu biết về loại hình tôn giáo chiếm ưu thế trong một quốc gia là rất quan trọng để đo lường sự ảnh hưởng của nó đến mức độ né tránh rủi ro của quốc gia đó.
(Black và Skipper, 2000) khẳng định rằng một vài học giả Hồi giáo đã lập luận và cho rằng bảo hiểm là một nỗ lực để thách thức số phận đã được định trước bởi Chúa và vì thế mà bảo hiểm của các nước phương Tây có thể bị loại bỏ như là một hình thức cờ bạc mà thực tế là đã bị cấm ở Koran. (Beck và Webb, 2003) đã nhấn mạnh quan điểm này khi ông ám chỉ rằng những người theo đạo Hồi được biết là không ủng hộ bảo hiểm nhân thọ bởi vì nó được xem như là một cách phòng ngừa chống lại ý chí của thánh Allah. (Brown và Kim, 1993) cũng cho ra những kết quả tương tự, tiêu dùng bảo hiểm nhân thọ ít chiếm ưu thế ở các nước hồi giáo khác.
Ảnh hưởng của các nhân tố nhân khẩu học khác đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ
Zhu (2007) đã nghiên cứu những sự lựa chọn của các cá nhân trong việc mua bảo hiểm nhân thọ và mua cổ phiếu sử dụng mô hình 1 giai đoạn và mô hình 2 giai đoạn. Zhu tìm thấy rằng sự gia tăng về khả năng sống sót khuyến khích các cá nhân nắm giữ bảo hiểm nhân thọ nhiều hơn. Tình trạng hôn nhân cũng được tìm thấy là ảnh hưởng đủ mạnh đến nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ của cả cá nhân và hộ gia đình trong những nghiên cứu trước đây (Hammond và cộng sự, 1967; Mantis & Farmer, 1968;) trong đó (Mantis& Farmer, 1968) đã lần đầu tiên kiểm tra mức độ ảnh hưởng của tình trạng hôn nhân đến nhu cầu bảo hiểm nhân thọ của các hộ gia đình.
1.1.2.2. Những nghiên cứu về bảo hiểm nhân thọ liên quan đến các nhân tố kinh tế (Fortune, 1973) lần đầu tiên tập trung vào mối quan hệ nhạy cảm giữa mua bảo hiểm nhân thọ và các biến tài chính, và liên kết các tác động của ông với chính sách tiền tệ và thị trường vốn. Ông đã phân tích thị trường bảo hiểm của Mỹ cho 1964-1971 và tìm thấy một mức độ nhạy cảm cao giữa số tiền tối ưu của bảo hiểm nhân thọ, sự giàu có và lãi suất thực tế.
Theo đó có thể sắp xếp các nghiên cứu này theo các nhóm yếu tố cụ thể như sau :
Ảnh hưởng của yếu tố thu nhập đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ
Thu nhập được tìm thấy là phổ biến có mối liên hệ tỷ lệ thuận đến nhu cầu bảo
hiểm nhân thọ khi các yếu tố khác không đổi. Ảnh hưởng của thu nhập hiện tại đến nhu cầu bảo hiểm nhân thọ được kiểm tra trong rất nhiều các nghiên cứu (Duker 1969;
Ferber & Lee, 1980; Truett và Truett, 1990; Showers và Shotick, 1994; Gandolfi và Miners, 1996). Showers và Shotick (1994) đã sử dụng phân tích Tobit để phân tích ảnh hưởng của các đặc điểm của hộ gia đình đến nhu cẩu về bảo hiểm nhân thọ với dữ liệu từ cuộc khảo sát chi tiêu của người tiêu dùng vào năm 1987. Sau đó, Hwang và Gao (2003), Outreville (1996), Li, Moshirian, Nguyen và Wee (2007), Beck và Webb (2003) cũng cho thấy rằng thu nhập có liên hệ tỷ lệ thuận với nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ. Các nghiên cứu chỉ ra rằng khi thu nhập gia tăng, nảy sinh nhu cầu gia nhập các quỹ tích lũy và khi tài sản gia tăng thì bảo hiểm nhân thọ là một trong những công cụ thu hút các quỹ này. Hơn nữa, thu nhập được nghĩ là làm gia tăng khả năng mua các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ do đó làm gia tăng mức tiêu dùng.
Ảnh hưởng của tài sản ròng hoặc tài sản đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ Có nhiều kết luận khẳng định trong các nghiên cứu trước đây hướng tới viêc ảnh hưởng của tài sản ròng hoặc tài sản đến các quyết định mua bảo hiểm nhân thọ.
Một vài tác giả tin rằng có mối liên hệ tỷ lệ thuận giữa tài sản ròng hoặc của cải với nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ (Duker; 1969; Anderson và Nevin (1975); Hau ,2000) từ việc có lẽ bảo hiểm nhân thọ cung cấp sự bảo vệ cho tài sản của các hộ gia đình.
Ngược lại, vài nghiên cứu bổ trợ đưa đến kết luận về mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa giá trị tài sản ròng và việc mua bảo hiểm nhân thọ cho rằng những hộ gia đình với tài sản ròng lớn hơn hoặc nhiều của cải hơn có khả năng nắm giữ các công cụ phòng ngừa tổn thất tài chính cao hơn theo khả năng tử vong của những người có thu nhập chính (Fortune, 1973; Lewis, 1989). Lewis đã xem xét nhu cầu của hộ gia đình cho bảo hiểm nhân thọ từ khía cạnh lợi ích. Ông cho rằng bảo hiểm nhân thọ được lựa chọn để tối đa hóa lợi ích kỳ vọng dựa trên mức độ tàn tật trong cuộc sống. Sử dụng dữ liệu khảo sát từ hiệp hội nghiên cứu và marketing bảo hiểm nhân thọ năm 1976, Lewis đã tìm thấy rằng tài sản ròng của hộ gia đình có mối liên hệ tỷ lệ nghịch với nhu cầu bảo hiểm nhân thọ, khi phí bảo nhân thọ là biến phụ thuộc.
Ảnh hưởng của lãi suất và tỷ lệ lạm phát đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ Vài nghiên cứu đã kiểm tra liệu người tiêu dùng có nhạy cảm với thị trường lãi suất khi mà ra các quyết định mua bảo hiểm nhân thọ. Headen và Lee (1974) nhấn mạnh rằng lãi suất có ảnh hưởng khác nhau đến nhu cầu bảo hiểm nhân thọ phụ thuộc vào tình huống là trong ngắn hạn hay dài hạn. Trong ngắn hạn, nhu cầu gia tăng với sự gia tăng ngày càng cao của lãi suất trong khi đó trong dài hạn tỷ lệ lãi suất không có ảnh hưởng rõ ràng đến nhu cầu bảo hiểm nhân thọ. Trong một nghiên cứu khác, Pliska và Ye (2007) thấy rằng thu nhập
mua bảo hiểm nhân thọ sẽ ít hơn khi lãi suất gia tăng. Họ lý giải rằng kết quả này là do khi tiền lương tăng người ta có xu hướng tiêu ít hơn vào các tiêu dùng bao gồm bảo hiểm nhân thọ và tiết kiệm tiền cho tương lai khi lãi suất tăng. Tỷ lệ lạm phát cũng được nghiên cứu là 1 nhân tố trong các quyết định mua bảo hiểm nhân thọ và được tìm thấy là một nhân tố có ảnh hưởng không đủ lớn đến nhu cầu bảo hiểm nhân thọ (Neumann, 1969). Ở một cách nhìn khác, Beck và Webb ( 2003) thấy rằng các quốc gia với tỷ lệ lạm phát cao tiêu dùng bảo hiểm nhân thọ ít hơn.
1.1.2.3. Những nghiên cứu về bảo hiểm nhân thọ liên quan đến các nhân tố tâm lý học Ảnh hưởng của lo ngại rủi ro đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ
Nghiên cứu về việc sự lo ngại rủi ro có liên hệ với nhu cầu bảo hiểm nhân thọ rất đa dạng. Nó được kỳ vọng rằng sự lo ngại rủi ro của các hộ gia đình ngày càng tăng thì họ cũng có động lực mua bảo hiểm nhân thọ nhiều hơn. Quan điểm này được hỗ trợ bởi nghiên cứu bởi (Burnett và Palmer (1984); Baek và Devaney (2005a); Zhu (2007)). Trong nghiên cứu của DeVaney thái độ đối với rủi ro được đo lường bởi câu hỏi: “ những tuyên bố nào gần nhất với mức độ rủi ro tài chính mà bạn sẵn sàng chấp nhận khi bạn tiết kiệm hoặc đầu tư”. Phân tích của Beak &
Devaney (2007) cho rằng những người chấp nhận rủi ro trên mức trung bình dường như mua các điều khoản bảo hiểm nhân thọ nhiều hơn những người mà chấp nhận rủi ro mức trung bình. Greene (1963) đã đo lường thái độ đối với rủi ro bởi 20 câu hỏi và sử dụng chỉ số cho những câu hỏi này. Ông đã tìm ra mối liên hệ không đủ lớn giữa thái độ đối với rủi ro với hành vi mua bảo hiểm nhân thọ.
Ảnh hưởng của kỳ vọng sống đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ
Kỳ vọng sống trung bình được định nghĩa là số năm trung bình của mỗi cá nhân trong một nước mà kỳ vọng sống sót. Điều này dẫn đến khái niệm khả năng tử vong mà được giả thuyết là có mối liên hệ tỷ thuận với việc tiêu dùng bảo hiểm nhân thọ Lewis (1989), Levy và cộng sự (1988), Browne và Kim (1993) gợi ý rằng khả năng tử vong có liên hệ tỷ lệ thuận với bảo hiểm nhân thọ với giả thuyết này;
do vậy kỳ vọng sống được giả thuyết là có tương quan tỷ lệ nghịch với nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ. Một cách thú vị là Beck và Webb (2003) thấy rằng khi kỳ vọng sống càng dài dẫn tới chi phí bảo hiểm cho những người tử vong giảm và giảm nhu cầu cho các chi phí về tử vong nhưng lại gia tăng các khoản tiết kiệm, do vậy tạo ra một mối liên hệ mang tính giả thuyết kỳ vọng.
Ảnh hưởng của những nhân tố tâm lý khác đến quyết định mua BHNT
Sử dụng dữ liệu bảng người tiêu dùng từ các thành phố khu vực Tây Nam cỡ trung, Burnett và Palmer (1984) đã khám phá ra 14 nhân tố tâm lý học như đạo đức làm việc, lòng tự trọng, sự tham gia vào cộng đồng, thuyết định mệnh (tin vào